Việt Nam hút 38 tỷ USD vốn FDI trong 7 tháng

QUANG MINH| 04/08/2026 16:26

Tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam trong 7 tháng năm 2026 tăng 58% so với cùng kỳ lên hơn 38 tỷ USD, trong khi vốn thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua.

Theo số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD trong 7 tháng năm 2026, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước.

Con số này bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Trong đó, cả nước có 2.429 dự án mới được cấp phép, với tổng vốn đăng ký 21,05 tỷ USD. Số dự án tăng 7,8% so với cùng kỳ, trong khi vốn đăng ký gấp 2,1 lần.

Vốn đăng ký điều chỉnh có 666 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký tăng thêm 10,43 tỷ USD, tăng 4,4%. Hoạt động góp vốn, mua cổ phần đạt 6,58 tỷ USD, tăng 61,6%, qua 1.815 lượt giao dịch.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện trong 7 tháng ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất của 7 tháng trong 5 năm gần đây.

So với số liệu lũy kế 6 tháng, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tăng thêm khoảng 3,41 tỷ USD trong tháng 7. Trong đó, vốn cấp mới tăng khoảng 3,66 tỷ USD, góp vốn, mua cổ phần tăng khoảng 360 triệu USD.

Riêng vốn điều chỉnh lũy kế giảm từ 11,04 tỷ USD sau 6 tháng xuống 10,43 tỷ USD sau 7 tháng, tức giảm khoảng 614 triệu USD, khiến vốn đăng ký điều chỉnh trong 7 tháng chỉ còn tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước.

Hồng Kông, Trung Quốc tăng mạnh vốn cấp mới trong tháng 7

Cơ cấu vốn đăng ký 7 tháng cho thấy vốn cấp mới tiếp tục là động lực lớn nhất của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Trong tổng vốn đăng ký 38,06 tỷ USD, vốn cấp mới đạt 21,05 tỷ USD, chiếm hơn một nửa tổng vốn đăng ký.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về vốn cấp mới, đạt 11,58 tỷ USD, chiếm 55% tổng vốn đăng ký mới. Ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước và điều hòa đạt 3,13 tỷ USD, chiếm 14,9%. Các ngành còn lại đạt 6,34 tỷ USD, chiếm 30,1%.

Nếu tính cả vốn cấp mới và vốn điều chỉnh, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17,94 tỷ USD, chiếm 57% tổng vốn của hai kênh. Kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với 5,23 tỷ USD, chiếm 16,6%, các ngành còn lại đạt 8,31 tỷ USD.

Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tiếp tục dẫn đầu với 2,68 tỷ USD, chiếm 40,8% tổng giá trị giao dịch. Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 1,96 tỷ USD, chiếm 29,7%.

Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Quang Minh

Trong số 69 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 7 tháng, Singapore tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với 7,5 tỷ USD, chiếm 35,6% tổng vốn đăng ký cấp mới. Hàn Quốc đứng thứ hai với 5,61 tỷ USD, chiếm 26,7%.

Đáng chú ý, Hồng Kông (Trung Quốc) vươn lên vị trí thứ ba với 2,91 tỷ USD, chiếm 13,8%; tiếp theo là Trung Quốc 1,73 tỷ USD, Nhật Bản 1,37 tỷ USD và Hà Lan 0,42 tỷ USD.

So với số liệu lũy kế 6 tháng, vốn cấp mới từ Hồng Kông (Trung Quốc) tăng thêm khoảng 2,24 tỷ USD trong tháng 7, là mức tăng lớn nhất trong nhóm đối tác dẫn đầu. Trung Quốc tăng thêm khoảng 760 triệu USD, Singapore tăng 176 triệu USD, Nhật Bản tăng 163 triệu USD và Hàn Quốc tăng 161 triệu USD.

Nếu tính chung vốn cấp mới và vốn điều chỉnh, Singapore dẫn đầu với khoảng 9,32 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc 8,1 tỷ USD, Hồng Kông (Trung Quốc) 4,06 tỷ USD, Malaysia gần 2,98 tỷ USD, Trung Quốc 2,06 tỷ USD và Nhật Bản 1,51 tỷ USD.

Cục Thống kê không cung cấp dữ liệu về hình thức góp vốn, mua cổ phần theo đối tác đầu tư.

Ở cấp địa phương, trong nhóm được công bố, Thái Nguyên vẫn dẫn đầu sau 7 tháng với tổng vốn cấp mới và điều chỉnh hơn 8,03 tỷ USD. TP.HCM đứng thứ hai với khoảng 7,18 tỷ USD, tiếp theo là Bắc Ninh 3,18 tỷ USD, Nghệ An 2,38 tỷ USD và Hải Phòng 1,93 tỷ USD.

Riêng trong tháng 7, TP.HCM ghi nhận mức tăng khoảng 2,31 tỷ USD nếu tính chung vốn cấp mới và vốn điều chỉnh, chủ yếu nhờ vốn cấp mới tăng khoảng 2,21 tỷ USD. Hiện thành phố và Cục Đầu tư nước ngoài chưa công bố danh mục các dự án cấp mới đóng góp vào mức tăng này.

Trong khi đó, Bắc Ninh tăng khoảng 604 triệu USD, Tây Ninh tăng 407 triệu USD, Hà Nội tăng 140 triệu USD và Hải Phòng tăng 104 triệu USD.

Từ thu hút vốn sang thu hút năng lực

Kết quả 7 tháng cho thấy Việt Nam tiếp tục duy trì sức hút lớn đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh FDI ngày càng dịch chuyển sang các dự án có hàm lượng công nghệ, đổi mới sáng tạo và liên kết chuỗi cung ứng cao hơn, câu chuyện không chỉ nằm ở quy mô vốn đăng ký.

Ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng toàn cầu tại Ngân hàng HSBC Việt Nam. Ảnh: HSBC

Ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng Toàn cầu HSBC Việt Nam, cho rằng Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn hàng đầu thế giới đối với FDI nhờ chi phí lao động cạnh tranh, nền chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng mở và môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng.

Theo HSBC, khu vực FDI hiện đóng góp khoảng ba phần tư giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Dù vậy, mô hình thu hút FDI để thúc đẩy xuất khẩu cũng có giới hạn; giai đoạn phát triển tiếp theo không chỉ đòi hỏi thu hút thêm vốn, mà còn phải tạo ra và giữ lại giá trị lớn hơn từ dòng vốn này.

Góc nhìn này phù hợp với định hướng mới trong Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, ban hành ngày 8/6/2026. Theo HSBC, mục tiêu của Việt Nam trong giai đoạn mới không còn chỉ là thu hút vốn, mà là thu hút năng lực: công nghệ, nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, cũng như khả năng đưa doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nghị quyết đặt mục tiêu giai đoạn 2025–2030 thu hút 200–300 tỷ USD FDI đăng ký mới, giải ngân 150–200 tỷ USD; khoảng ba phần tư dòng vốn đến từ các nền kinh tế phát triển. Việt Nam cũng đặt mục tiêu đưa 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI và thu hút tối thiểu ba tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở khu vực hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

Thách thức là các lợi thế truyền thống, đặc biệt là chi phí lao động cạnh tranh, không còn đủ để bảo đảm sức hút FDI dài hạn. Theo HSBC, các nhà đầu tư chiến lược ngày càng coi trọng chất lượng thể chế, khả năng dự báo chính sách, năng lực của lực lượng lao động và tốc độ cải cách. Vì vậy, cạnh tranh thu hút FDI đang dịch chuyển từ ưu đãi sang thể chế, trong khi năng suất, tự động hóa và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành những yếu tố then chốt.

"Khi doanh nghiệp tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, họ tìm kiếm những điểm đến đầu tư có khả năng chống chịu, có tính dự báo và được dẫn dắt bởi đổi mới. Thể chế vững mạnh đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh giá trị nhất mà một quốc gia có thể mang lại", ông Richard Barnsley nhấn mạnh.

Góc nhìn của HSBC cũng tương đồng với khuyến nghị của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Theo ADB, việc đánh giá FDI trong giai đoạn tới không nên chỉ dựa vào tổng vốn đăng ký, số lượng dự án hay số lao động tạo ra, mà cần xem xét dự án có thực sự được triển khai, tiến độ giải ngân và phần giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế.

ADB cho rằng Việt Nam cần có bộ tiêu chí để sàng lọc dự án FDI, thay vì thu hút FDI bằng mọi giá. Ba tiêu chí quan trọng gồm: mức độ giá trị gia tăng được giữ lại trong nước; khả năng doanh nghiệp Việt Nam tham gia và nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị của nhà đầu tư nước ngoài; và mức độ chuyển giao công nghệ.

Khuyến nghị này đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh khu vực FDI vẫn giữ vai trò lớn trong xuất khẩu, nhưng liên kết với doanh nghiệp nội địa còn hạn chế. Nếu doanh nghiệp Việt Nam không đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng, lợi ích từ FDI có thể tiếp tục tập trung ở các khâu gia công, lắp ráp, đóng gói hoặc logistics, trong khi công nghệ cốt lõi vẫn nằm ngoài nền kinh tế trong nước.

Do đó, bài toán FDI sau 7 tháng không chỉ là duy trì tốc độ tăng vốn đăng ký, mà còn là nâng chất dòng vốn. Theo ADB, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư vào hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, lưới điện, hạ tầng số và nguồn nhân lực để thu hút các dự án có giá trị gia tăng cao hơn, như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghiệp xanh và logistics hiện đại.

Bài liên quan
  • Từ thu hút FDI đến kiến tạo năng lực quốc gia
    Sau 40 năm thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), trong giai đoạn phát triển mới, vấn đề đặt ra với Việt Nam không còn là thu hút được bao nhiêu vốn, mà là làm sao để dòng vốn ấy cùng với nội lực giúp kiến tạo và phát triển năng lực quốc gia.

(0) Bình luận
Nổi bật Tin tức IDS
Đừng bỏ lỡ
Việt Nam hút 38 tỷ USD vốn FDI trong 7 tháng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO