Trung tâm công nghiệp năng lượng: Phát huy vai trò tập trung hạ tầng và liên kết chuỗi giá trị

Đình Khương| 18/09/2026 16:40

(PetroTimes) - Thay vì phát triển các dự án năng lượng riêng lẻ, mô hình Trung tâm công nghiệp năng lượng hướng tới kết nối toàn bộ chuỗi từ cung ứng nguyên liệu, hạ tầng cảng - kho, chuyển đổi và chế biến năng lượng đến các ngành công nghiệp hạ nguồn. Theo TS Trần Văn, điểm cốt lõi không phải là “gom” nhiều dự án về một địa điểm, mà là hình thành sự liên kết về sản xuất, hạ tầng và thị trường, qua đó khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đầu tư và gia tăng giá trị từ năng lượng.

Tích hợp để hình thành chuỗi giá trị

Trao đổi với PetroTimes, TS Trần Văn, giảng viên Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII cho biết, có thể hiểu Trung tâm công nghiệp năng lượng là một cụm công nghiệp năng lượng được quy hoạch tập trung trên một địa bàn, trong đó nhiều công đoạn của chuỗi giá trị năng lượng, từ nguyên liệu đầu vào, chuyển đổi, chế biến, phát điện đến các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng tại chỗ được gắn kết bằng hệ thống hạ tầng dùng chung và cơ chế đầu tư đặc thù.

Khác với mô hình khu công nghiệp truyền thống vốn chỉ thuần túy cho thuê đất và vận hành độc lập, mô hình mới này bắt buộc phải tích hợp sâu sắc theo chiều dọc của chuỗi giá trị. Theo đó, nguồn khí và LNG thượng nguồn sẽ kết nối trực tiếp với trung nguồn điện khí, lọc hóa dầu, rồi tiếp tục liên kết với các ngành hạ nguồn như hóa chất, phân bón, luyện kim và vật liệu.

Một khác biệt quan trọng khác là tính tích hợp đa dạng loại hình năng lượng. Bên cạnh khí, LNG, điện, lọc hóa dầu, các trung tâm có thể kết hợp năng lượng tái tạo, thủy điện tích năng, hydrogen, ammonia xanh và những nguồn năng lượng khác phù hợp với đặc điểm từng khu vực.

Trung tâm công nghiệp năng lượng: Phát huy vai trò tập trung hạ tầng và liên kết chuỗi giá trị
TS Trần Văn, giảng viên Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII.

Ví dụ như Dung Quất (Quảng Ngãi), nơi đang được định hướng trở thành “Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia”. Từ hạt nhân là Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, hệ sinh thái có thể mở rộng sang các lĩnh vực khí, điện, hóa dầu và các ngành công nghiệp phụ trợ, qua đó tạo liên kết giữa nhiều mắt xích trong chuỗi giá trị.

Để mô hình này thực sự phát huy hiệu quả thay vì chỉ là tập hợp nhiều dự án trên cùng một địa bàn, TS Trần Văn nhấn mạnh tầm quan trọng của 6 cấu phần cốt lõi phải được thiết lập và vận hành đồng bộ.

Yếu tố đầu tiên là nguồn nguyên liệu ổn định từ các mỏ đã xác minh trữ lượng hoặc hệ thống nhập khẩu LNG hoàn chỉnh. Di kèm với đó là hệ thống hạ tầng tiếp nhận gồm cảng nước sâu, kho cảng LNG, trạm tái hóa khí. Tại khâu chuyển đổi và chế biến, các dự án hạt nhân như nhà máy điện khí/LNG, lọc dầu, hóa dầu đóng vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị, kết hợp hài hòa với các nguồn năng lượng bổ trợ khác.

Cấu phần tiếp theo là công nghiệp hạ nguồn tiêu thụ tại chỗ như hóa chất, phân bón, vật liệu, luyện kim. Đây được xem là mắt xích thường bị bỏ quên nhưng có ý nghĩa quyết định đối với khả năng tạo giá trị gia tăng thực sự của trung tâm.

Bên cạnh đó là hạ tầng kết nối dùng chung được quy hoạch đồng bộ, từ cảng nước sâu, kho cảng LNG, đường ống dẫn khí đến lưới truyền tải 500 kV và hệ thống logistics. Và cuối cùng là nền tảng thể chế, quy hoạch tích hợp cùng cam kết đầu ra đủ chắc chắn, thông qua nhu cầu tiêu thụ tại chỗ hoặc các hợp đồng bao tiêu dài hạn.

Như vậy, điểm cốt lõi của mô hình không nằm ở việc “gom” nhiều dự án năng lượng về một địa điểm, mà là tạo ra mối liên kết sản xuất, hạ tầng và thị trường giữa các dự án.

Giải bài toán hạ tầng và vốn

Theo TS Trần Văn, sự cần thiết của mô hình Trung tâm công nghiệp năng lượng cũng xuất phát từ những hạn chế của cách phát triển từng dự án riêng lẻ. Trường hợp các dự án điện khí LNG cho thấy khá rõ vấn đề này.

Theo Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, các dự án điện khí LNG được quy hoạch đến năm 2030 với tổng công suất 22.524 MW. Tuy nhiên, đến nay, mới có 1 dự án đi vào hoạt động, trong khi các dự án còn lại đa số chưa triển khai.

Trung tâm công nghiệp năng lượng: Phát huy vai trò tập trung hạ tầng và liên kết chuỗi giá trị
Sự cần thiết của mô hình Trung tâm công nghiệp năng lượng cũng xuất phát từ những hạn chế của cách phát triển từng dự án riêng lẻ.

Một nguyên nhân nằm ở đặc thù đầu tư của các dự án LNG. Mỗi nhà máy thường có công suất 1.500-2.000 MW. Nếu từng dự án phải tự đầu tư toàn bộ cầu cảng, kho cảng LNG, trạm tái hóa khí, đường ống và các hạ tầng liên quan, suất đầu tư hạ tầng trên mỗi MW sẽ rất cao. Đặc biệt, cảng và kho LNG có tính kinh tế theo quy mô lớn, càng được khai thác cho nhiều dự án thì chi phí bình quân càng có thể được tối ưu.

Trong khi đó, các dự án còn phải đối mặt với rủi ro về hợp đồng mua bán điện dài hạn và hợp đồng bao tiêu khí. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn và hiệu quả tài chính của dự án.

Theo TS Trần Văn, mô hình trung tâm tích hợp có thể tạo ra lợi thế ở cả hai phương diện. Thứ nhất, hạ tầng nhập khẩu, kho cảng, đường ống và các công trình kết nối có thể được đầu tư theo quy mô lớn để phục vụ nhiều nhà máy, qua đó giảm chi phí bình quân. Nhu cầu khí được gộp lại cũng tạo điều kiện để nâng cao vị thế đàm phán các hợp đồng LNG dài hạn.

Thứ hai, sự hiện diện của các ngành hạ nguồn có thể tạo thêm khách hàng tiêu thụ ổn định. Khi khí và điện được sử dụng làm đầu vào cho hóa dầu, hóa chất, phân bón, vật liệu hay luyện kim ngay trong cùng hệ sinh thái, các ngành hạ nguồn vừa giúp gia tăng giá trị sản phẩm vừa có thể tạo nguồn cầu dài hạn cho các công đoạn phía trước.

Trên thế giới, những mô hình như Jurong Island (Singapore), tổ hợp công nghiệp Ulsan (Hàn Quốc) hay khu cảng năng lượng Rotterdam (Hà Lan) cho thấy vai trò của việc tập trung hạ tầng và liên kết chuỗi giá trị.

Tuy nhiên, mô hình này cũng đặt ra một yêu cầu quan trọng là không được đánh đổi rủi ro phân tán bằng rủi ro tập trung. Khi nhiều dự án cùng phụ thuộc vào hạ tầng dùng chung, một sự cố tại cảng, kho LNG, đường ống hoặc hệ thống truyền tải có thể gây tác động dây chuyền tới toàn bộ trung tâm.

Bởi vậy, vấn đề không chỉ là xây dựng trung tâm ở đâu, quy mô bao nhiêu, mà còn là thiết kế cơ chế vận hành như thế nào.

Về nguyên tắc, hạ tầng dùng chung có tính độc quyền tự nhiên cần được tách khỏi các hoạt động kinh doanh cạnh tranh như phát điện, lọc hóa dầu, hóa chất hay phân bón. Hạ tầng này cần được vận hành theo nguyên tắc trung lập, bảo đảm các doanh nghiệp tham gia có quyền tiếp cận công bằng, minh bạch.

Để phát huy hiệu quả của mô hình này, TS Trần Văn cho rằng Nhà nước có thể đảm nhận 3 vai trò: kiến trúc sư của quy hoạch tổng thể; nhà đồng đầu tư đối với hạ tầng thiết yếu có vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài; đồng thời là trọng tài điều phối, bảo đảm nguyên tắc tiếp cận hạ tầng bình đẳng và minh bạch.

Trong khi đó, doanh nghiệp hạt nhân sẽ đầu tư các công đoạn lõi; doanh nghiệp vệ tinh phát triển các ngành hạ nguồn; nhà đầu tư hạ tầng có thể tham gia theo mô hình PPP. Điều quan trọng là 3 điều kiện phải được bảo đảm đồng thời: hợp đồng dài hạn giữa các công đoạn, hạ tầng dùng chung đi trước hoặc đồng bộ với nhà máy sử dụng và cơ chế tiếp cận hạ tầng công bằng.

Nếu thiếu những điều kiện này, việc tập trung các dự án về cùng một địa bàn chưa đủ để tạo thành chuỗi giá trị. Trung tâm công nghiệp năng lượng khi đó có nguy cơ chỉ trở thành một khu công nghiệp với tên gọi mới.

Bài liên quan
  • Phát triển hạ tầng năng lượng để đón đầu AI và kinh tế số
    Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và kinh tế số phát triển mạnh, yêu cầu về nguồn năng lượng ổn định, an toàn và bền vững trở nên cấp thiết. Các chuyên gia cho rằng, phát triển hạ tầng năng lượng, hoàn thiện cơ chế và huy động hiệu quả nguồn lực đầu tư là điều kiện quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng và tạo nền tảng cho các ngành công nghệ chiến lược.

(0) Bình luận
Nổi bật Tin tức IDS
Đừng bỏ lỡ
Trung tâm công nghiệp năng lượng: Phát huy vai trò tập trung hạ tầng và liên kết chuỗi giá trị
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO