Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa mục tiêu Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số, xã hội số
Trần Thanh / Ngân hàng Nhà nước Việt Nam|22/12/2022 08:02
Xác định chuyển đổi số là tất yếu, các ngân hàng Việt Nam đã chủ động thực thi với 95% các ngân hàng tham gia khảo sát đã và đang xây dựng, triển khai Chiến lược chuyển đổi số.
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 16/2021/QH15 ngày 27/7/2021 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 411); trong đó, nêu rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế số và xã hội số được đặt ở mức ưu tiên cao trong các Chiến lược phát triển quốc gia. Nhằm triển khai Quyết định số 411, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Quyết định số 1887/QĐ-NHNN ngày 03/11/2022 phê duyệt “Kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2022 - 2025” (Quyết định số 1887).
Tại Việt Nam, kinh tế số luôn nằm trong top đầu của ASEAN về tốc độ phát triển. Theo báo cáo “e-Conomy SEA 2021” do Tập đoàn Google, Bain (Mỹ) và Temasek (Singapore) phối hợp công bố, nền kinh tế Internet của Việt Nam năm 2021 đạt giá trị 21 tỷ USD, đóng góp hơn 5% GDP của đất nước, cao gấp 7 lần năm 2015, dự kiến đạt 57 tỷ USD năm 2025, đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á. Tốc độ tăng trưởng năm 2021 đạt 31%, dự kiến sẽ tăng trung bình khoảng 29%/năm đến năm 2025.
Báo cáo gần đây của Tổng cục Thống kê cho thấy bức tranh chi tiết hơn. Năm 2021, ước tính kinh tế số Việt Nam đạt khoảng 163 tỷ USD, chiếm khoảng 8,2% GDP cả nước, trong đó, cấu phần kinh tế số công nghệ thông tin và viễn thông đạt 126 tỷ USD, chiếm 5,5% GDP, kinh tế số Internet/nền tảng đạt 14 tỷ USD, chiếm 1% GDP và kinh tế số ngành/lĩnh vực đạt khoảng 23 tỷ USD, chiếm 1,7% GDP.
8 nhiệm vụ của ngành Ngân hàng triển khai Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số, xã hội số
Quyết định số 411 đặt ra mục tiêu đến năm 2025, tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; tỷ trọng thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ đạt trên 10%; tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử đạt trên 80%; tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số đạt trên 50%; tỷ lệ nhân lực lao động kinh tế số trong lực lượng lao động đạt trên 2%. Đến năm 2030, tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%; tỷ trọng thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ đạt trên 20%; tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số đạt trên 70%; tỷ lệ nhân lực lao động kinh tế số trong lực lượng lao động đạt trên 3%.
Trong lĩnh vực xã hội số, mục tiêu cơ bản đến năm 2025 cụ thể: Tỷ lệ dân số trưởng thành có điện thoại thông minh đạt 80%; tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch thanh toán tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác đạt 80%; tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 70%; tỷ lệ hộ gia đình được phủ mạng Internet băng rộng cáp quang đạt 80%; tỷ lệ người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử đạt 90%. Mục tiêu cơ bản đến năm 2030: Tỷ lệ dân số trưởng thành có điện thoại thông minh đạt 95%; tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%; tỷ lệ hộ gia đình được phủ mạng Internet băng rộng cáp quang đạt 100%; tỷ lệ người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử đạt trên 95%.
Theo Quyết định số 1887, kế hoạch nhằm tổ chức triển khai đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ của ngành Ngân hàng bao gồm 08 nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, phát triển thanh toán số theo hướng phổ cập tài chính toàn diện, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Trong đó, tổ chức triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định của Chính phủ về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng; rà soát, sửa đổi quy định, chính sách về tài chính, phí, lệ phí theo hướng loại bỏ các rào cản thanh toán không sử dụng tiền mặt, từ đó, khuyến khích người dân thực hiện các giao dịch không sử dụng tiền mặt; phát triển các hệ thống thanh toán; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách các vấn đề liên quan đến tiền kỹ thuật số quốc gia...
Hai là, hoàn thiện thể chế, rà soát xây dựng, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật trong ngành Ngân hàng phù hợp với yêu cầu của phát triển kinh tế số, xã hội số; chú trọng xây dựng các chính sách để nâng tỷ lệ hoạt động trực tuyến chiếm tối thiểu 50% các hoạt động của ngành Ngân hàng; triển khai các nhiệm vụ thuộc nhóm nhiệm vụ “Xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng”.
Ba là, phát triển, sử dụng nền tảng số, xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch của ngành Ngân hàng thúc đẩy sử dụng các nền tảng số quốc gia; xác định các nền tảng số của ngành Ngân hàng và xây dựng kế hoạch cụ thể để phát triển và thúc đẩy sử dụng các nền tảng số của ngành Ngân hàng.
Bốn là, phát triển dữ liệu số, tiếp tục hoàn thiện nền tảng phân tích, xử lý dữ liệu tổng hợp của NHNN nhằm lưu trữ tập trung, tổng hợp, phân tích, xử lý dữ liệu về phát triển kinh tế - xã hội.
Năm là, đảm bảo an toàn thông tin và an ninh mạng. Đảm bảo yêu cầu an toàn thông tin mạng mặc định ngay từ khâu thiết kế, xây dựng khi phát triển các hạ tầng số, nền tảng số; phát triển nền tảng và tổ chức triển khai dịch vụ an toàn thông tin mạng theo mô hình bảo vệ 4 lớp.
Sáu là, phát triển kỹ năng số, công dân số, văn hóa số. Tổ chức triển khai, thực hiện Quyết định số 1033/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN về kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Bảy là, phát triển doanh nghiệp số. Xây dựng và ban hành Chương trình xác định Chỉ số đánh giá mức độ chuyển đối số doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số của ngành Ngân hàng.
Tám là, một số nhiệm vụ, giải pháp khác như: Hợp tác với doanh nghiệp nền tảng số trong việc nghiên cứu, phát triển các nền tảng số xuất sắc, chất lượng cao; triển khai các chương trình truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người dân trong sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính - ngân hàng trên nền tảng số; hợp tác quốc tế về phát triển kinh tế số, xã hội số...
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số
Xác định đẩy mạnh chuyển đổi số là một chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ, là hướng đi tất yếu trong kỷ nguyên 4.0, trước đó, ngày 11/5/2021, Thống đốc NHNN, Trưởng ban Chỉ đạo chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã ký Quyết định số 810/QĐ-NHNN ban hành Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 810).
Quyết định số 810 đã đề ra chi tiết lộ trình để đạt được các mục tiêu theo từng đối tượng cụ thể như sau: Mục tiêu đến năm 2025, 100% các dịch vụ công của NHNN đủ điều kiện được nâng cấp lên mức độ 4; 100% giao dịch trên Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa của NHNN được xác thực điện tử... Đối với các tổ chức tín dụng (TCTD): Ít nhất 50% các nghiệp vụ được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số vào năm 2025 và đến năm 2030 là 70%; chỉ tiêu về số lượng giao dịch của khách hàng trên các kênh số đạt ít nhất 70% năm 2025 và 80% năm 2030; chỉ tiêu về tỷ lệ quyết định giải ngân, cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM), công ty tài chính đối với các khoản vay nhỏ lẻ, vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân được thực hiện theo hướng số hóa, tự động đến năm 2025 đạt tối thiểu 50% và đến năm 2030 đạt tối thiểu 70%.
Ngày 28/6/2022, Thống đốc NHNN tiếp tục ban hành Quyết định số 1097/QĐ-NHNN kế hoạch chuyển đổi số năm 2022. Trước đó, ngày 13/01/2022, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN về việc đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng. Chỉ thị này được ban hành nhằm yêu cầu các đơn vị ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai mạnh mẽ hơn nữa hoạt động chuyển đổi số phù hợp với yêu cầu cuộc sống và đảm bảo an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động, trong đó, đã xác định các nhiệm vụ cụ thể đối với các đơn vị thuộc NHNN và TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
Thời gian vừa qua, NHNN đã nghiên cứu ban hành và triển khai nhiều chính sách quan trọng nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số ngành Ngân hàng như: (i) Xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt và Nghị định về Cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng; (ii) Ban hành và hướng dẫn triển khai việc mở tài khoản, phát hành thẻ bằng phương thức điện tử eKYC; (iii) Triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money) theo Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, NHNN cũng đang phối hợp với Bộ Công an nghiên cứu các phương án kết nối, khai thác thông tin Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, căn cước công dân gắn chíp phục vụ việc định danh, xác thực khách hàng chính xác, an toàn, nhanh chóng (tại ATM, tại quầy và trên ứng dụng đi động), tiến tới làm sạch dữ liệu khách hàng, phục vụ đối sánh thông tin tin cậy, kịp thời phục vụ yêu cầu quản lý.
Xác định chuyển đổi số là tất yếu, các ngân hàng Việt Nam đã chủ động thực thi với 95% các ngân hàng tham gia khảo sát đã và đang xây dựng, triển khai Chiến lược chuyển đổi số. Nhiều nghiệp vụ ngân hàng như mở tài khoản thanh toán, thanh toán chuyển tiền, gửi tiền/gửi tiết kiệm đã được số hóa toàn diện 100%, cho phép khách hàng thực hiện hoàn toàn trên kênh số; nhiều ngân hàng Việt Nam chuyển đổi số ở top đầu đã ghi nhận tỷ lệ hơn 90% giao dịch của khách hàng được thực hiện qua kênh số với tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) ở mức tối ưu, chỉ từ 30 - 40%, phản ánh hiệu quả từ chuyển đổi số, phát triển dịch vụ ngân hàng số. Thanh toán không dùng tiền mặt trong 9 tháng đầu năm 2022 đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2021, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 86,7% về số lượng và 34,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.
Có thể thấy rằng, trong thời gian qua, các ngân hàng tại Việt Nam đã chủ động ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào các hoạt động ngân hàng, phát triển mô hình ngân hàng số, tạo lập hệ sinh thái số cung ứng các sản phẩm dịch vụ an toàn, tiện ích, chất lượng nhằm gia tăng trải nghiệm cho khách hàng, từ đó, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế số, xã hội số.
Với những kết quả đạt được, Việt Nam cũng đã được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận tích cực. Theo hãng tư vấn chiến lược toàn cầu McKinsey, năm 2021, ngành Ngân hàng Việt Nam được đánh giá có mức độ ứng dụng ngân hàng số với tốc độ nhanh nhất trong khu vực, tăng từ 41% năm 2015 lên đến 82% vào năm 2021, cao hơn mức tăng bình quân 23% của toàn khu vực và thậm chí cao hơn mức tăng bình quân 33% của thị trường mới nổi.
Tiếp tục đẩy mạnh số hóa ngân hàng, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số
Tại Quyết định số 411, đã xác định rõ thể chế, hạ tầng, nhân lực, người dân, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế số và xã hội số.
Để thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số khẳng định nhiệm vụ xuyên suốt, có mức độ ưu tiên cao nhất là hoàn thiện thể chế, chính sách và môi trường pháp lý.
Về phía ngành Ngân hàng, quá trình số hóa đã và đang góp phần quan trọng hướng tới kinh tế số, xã hội số, do đó, thời gian tới, ngành Ngân hàng cần tập trung vào: Chuyển đổi nhận thức; chuẩn bị nguồn lực sẵn sàng cho hoạt động chuyển đổi số; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện thuận lợi quá trình chuyển đổi số; phát triển hạ tầng số, tích hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu ngân hàng với dữ liệu ngành, lĩnh vực khác; phát triển các mô hình ngân hàng số, ứng dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) để cung ứng sản phẩm, dịch vụ an toàn tiện lợi với chi phí thấp; đảm bảo an toàn, an ninh mạng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính giúp người sử dụng dịch vụ tài chính - ngân hàng được an toàn, hiệu quả, góp phần thúc đẩy thanh toán số, phổ cập tài chính. Cụ thể:
Đối với NHNN:
(i) Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế chính sách tạo thuận lợi cho sự phát triển các sản phẩm dịch vụ thanh toán số và quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng; nghiên cứu, rà soát ban hành quy định về thu thập, khai thác, xử lý và chia sẻ dữ liệu thanh toán để triển khai giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) trong thanh toán, hướng tới việc tạo lập hệ sinh thái chuyển đổi số.
(ii) Tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp tại Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo Quyết định số 810; triển khai chuyển đổi số hoạt động của NHNN theo Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ số và bảo đảm an toàn thông tin mạng trong hoạt động của NHNN năm 2022; kiến trúc Chính phủ điện tử 2.0 của NHNN; triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 411.
(iii) Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hạ tầng công nghệ phục vụ cho việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng số thông qua việc nâng cấp và hoàn thiện Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng, Hệ thống thanh toán bù trừ tự động phục vụ cho các giao dịch bán lẻ (ACH) hoạt động 24x7, xử lý thanh toán tức thời (real-time) và tăng cường khả năng tích hợp, kết nối hạ tầng, với các ngành, lĩnh vực khác. Đồng thời, tăng cường công tác đảm bảo an ninh, bảo mật trong cung ứng dịch vụ ngân hàng.
(iv) Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong triển khai chuyển đổi số và kiến nghị, đề xuất Chính phủ xây dựng cơ chế chính sách nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động chuyển đổi số.
Đối với các NHTM:
(i) Tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp tại Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo Quyết định số 810 và các Kế hoạch nói trên của ngành Ngân hàng.
(ii) Tiếp tục ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ của CMCN 4.0 để cải tiến, thiết kế các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số, tăng tính tiện ích, trải nghiệm cho khách hàng; tiến tới chuyển đổi mô hình ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số dựa trên công nghệ mới và phân tích dữ liệu.
(iii) Tiếp tục triển khai các giải pháp hướng tới mục tiêu tài chính toàn diện, tăng cường công tác truyền thông tuyên truyền, giáo dục tài chính, nâng cao nhận thức, hiểu biết người dân về ứng dụng kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng; cảnh báo các rủi ro, các chiêu trò lừa đảo giúp người dân thận trọng nhằm đảm bảo an toàn thông tin, dữ liệu và tài khoản ngân hàng của khách hàng.
(iv) Chủ động nghiên cứu và triển khai các giải pháp, công nghệ số (điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo/học máy, xác thực sinh trắc học...) trong thiết kế, cung ứng sản phẩm dịch vụ, quản trị rủi ro, tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ... phù hợp với định hướng của NHNN về chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng, đảm bảo thống nhất, đồng bộ, kết nối hệ thống trong các ứng dụng và sản phẩm kỹ thuật số, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường trải nghiệm và sự gắn bó với khách hàng.
(v) Đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để thiết lập hệ sinh thái số và cung ứng sản phẩm, dịch vụ với trải nghiệm liền mạch, xuyên suốt cho khách hàng, trong đó chú trọng đến các lĩnh vực: Y tế, giáo dục, giao thông, hành chính công...
(vi) Phối hợp với Bộ Công an kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, phát triển và sử dụng các ứng dụng trên thẻ Căn cước công dân và ứng dụng VNEID trên nền tảng công nghệ sinh trắc học để cung cấp các dịch vụ định danh, xác thực điện tử trong thanh toán, mở tài khoản... Ứng dụng VNEID được Bộ Công an chính thức đưa vào sử dụng nhằm hỗ trợ khai báo di chuyển nội địa, di biến động dân cư và nhận mã QR để việc đi lại khi qua chốt kiểm dịch nhanh chóng hơn. VNEID có khả năng kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để bảo đảm tính chính xác của thông tin công dân.
Phát triển kinh tế số Việt Nam có thành công hay không rất cần sự hợp lực từ tất cả các cấp chính trị, các thành phần kinh tế. Hợp lực giữa bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và giữa các thành phần này với nhau sẽ tạo ra được những chương trình bài bản, có định hướng, những chính sách cởi mở, thông thoáng và những hệ sinh thái số phù hợp, tối ưu cho các cơ quan, tổ chức Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
2. Quyết định số 1887/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN phê duyệt “Kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2022 - 2025”.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thọ Đạt, để chuyển đổi số thành công trong doanh nghiệp sản xuất phải có tầm nhìn xa nhưng bước đi nhỏ. Tầm nhìn xa là phải có chiến lược phát triển, có bộ chỉ số thể hiện mức độ trưởng thành trong từng ngành và bước đi nhỏ là để có phải làm lại thì chi phí cũng không lớn.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Sau hơn 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững hơn. Các chuyên gia cho rằng, kinh tế số sẽ là động lực then chốt, nhưng để phát huy hiệu quả cần đồng bộ từ thể chế, doanh nghiệp đến tư duy đầu tư.
Nghị quyết 57-NQ/TW là điểm khởi đầu của một hành trình mới - hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số với tư cách một quốc gia sáng tạo, một nền kinh tế tri thức và một xã hội đổi mới. Trong kỷ nguyên ấy, Việt Nam không chỉ tham gia cuộc chơi, mà có thể góp phần định hình cuộc chơi.
Kinh tế số Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng, trở thành một trong những điểm sáng của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, kinh tế số không chỉ cần mở rộng quy mô mà còn đòi hỏi sự chuyển dịch về cấu trúc, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hấp thụ của toàn bộ nền kinh tế.
Trí tuệ nhân tạo đang mở ra một kỷ nguyên kỹ thuật số mới. Bên cạnh hào hứng về những khía cạnh tích cực, cũng có những lo ngại ngày càng tăng về tác động tiêu cực của AI đối với môi trường. Công nghệ AI đang gây ra bao nhiêu thiệt hại cho hành tinh của chúng ta, và chúng ta làm gì để khắc phục điều đó?
Kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với đà phục hồi tích cực, song áp lực ổn định vĩ mô cũng gia tăng rõ nét. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết: để đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần những chuyển đổi mang tính cấu trúc, đi cùng cách tiếp cận chính sách linh hoạt và chủ động hơn.
Nghị quyết 57-NQ/TW là điểm khởi đầu của một hành trình mới - hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số với tư cách một quốc gia sáng tạo, một nền kinh tế tri thức và một xã hội đổi mới. Trong kỷ nguyên ấy, Việt Nam không chỉ tham gia cuộc chơi, mà có thể góp phần định hình cuộc chơi.
Sau hơn 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững hơn. Các chuyên gia cho rằng, kinh tế số sẽ là động lực then chốt, nhưng để phát huy hiệu quả cần đồng bộ từ thể chế, doanh nghiệp đến tư duy đầu tư.
Kinh tế số Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng, trở thành một trong những điểm sáng của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, kinh tế số không chỉ cần mở rộng quy mô mà còn đòi hỏi sự chuyển dịch về cấu trúc, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hấp thụ của toàn bộ nền kinh tế.
Trí tuệ nhân tạo đang mở ra một kỷ nguyên kỹ thuật số mới. Bên cạnh hào hứng về những khía cạnh tích cực, cũng có những lo ngại ngày càng tăng về tác động tiêu cực của AI đối với môi trường. Công nghệ AI đang gây ra bao nhiêu thiệt hại cho hành tinh của chúng ta, và chúng ta làm gì để khắc phục điều đó?
Kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với đà phục hồi tích cực, song áp lực ổn định vĩ mô cũng gia tăng rõ nét. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết: để đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần những chuyển đổi mang tính cấu trúc, đi cùng cách tiếp cận chính sách linh hoạt và chủ động hơn.
Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển nhanh chóng, nơi mọi nền tảng đều cạnh tranh khốc liệt để giành lấy thời gian và sự chú ý của người dùng, một hiện tượng đáng chú ý đang dần hình thành: “annoyance economy” - “nền kinh tế gây phiền nhiễu”.
Khu đất rộng hơn 46 ha tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, nơi xây dựng Trung tâm hành chính và Quảng trường trung tâm TP.HCM đã sẵn sàng triển khai. Dự án gần 30.000 tỷ đồng được kỳ vọng tạo điểm nhấn mới cho không gian đô thị.
Tìm kiếm trên Internet nay đã khác trước. Trước đây chúng ta gõ vào cụm từ muốn tìm, chờ Google trả về kết quả và vào đọc vài ba đường dẫn đầu trang để tìm thông tin liên quan, khá mất thời gian và ít khi tìm đúng nội dung muốn tìm ngay lập tức.
Trong bối cảnh kinh tế số tăng nhanh, nhưng đang có sự suy giảm của các yếu tố chiều sâu như công nghệ, quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam đang tạo ra giá trị hay chỉ dừng ở “gia công số”?
Những ngày đầu của nhiệm kỳ mới, loạt chỉ đạo từ Trung ương đến Chính phủ cho thấy nhịp điều hành nhanh hơn và đi thẳng vào những điểm nghẽn nhiều năm trong môi trường kinh doanh. Yêu cầu cải cách được cụ thể hóa bằng mốc thời gian, chỉ tiêu cắt giảm và trách nhiệm rõ ràng của từng bộ, ngành. Tất cả nhằm kiến tạo môi trường thuận lợi để kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, đánh thức nội lực tăng trưởng.
Việc triển khai các nghị quyết lớn về phát triển kinh tế Việt Nam đặt ra yêu cầu khu vực kinh tế nhà nước phải thực sự phát huy vai trò “đầu tàu”, tiên phong, dẫn dắt. Các chuyên gia cho rằng: Để thực hiện được mục tiêu trên, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, trao quyền thực chất cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và phân định rõ ràng vai trò với khu vực tư nhân, qua đó tạo sự bổ trợ thay vì cạnh tranh, nhằm khai thác tối đa nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Ngân hàng Việt Nam đang chứng kiến làn sóng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) lan rộng trên toàn hệ thống. Từ chăm sóc khách hàng, thẩm định tín dụng đến quản trị vận hành và phát triển sản phẩm, AI dần trở thành “trục xương sống” trong chiến lược chuyển đổi số của các TCTD.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho rằng, tăng trưởng cao và bền vững là yếu tố gắn bó chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, được ví như "hai cánh của một con chim". Và chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu bắt buộc để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, bắt kịp, tiến cùng khu vực và thế giới, thực hiện 2 mục tiêu 100 năm.
“Việc giao cho TPHCM tiên phong xây dựng và triển khai “bản đồ huy động nguồn lực” không chỉ hợp lý mà còn cần thiết. Có thể xem đây như một “phòng thí nghiệm chính sách”, nơi các mô hình huy động vốn hiện đại được thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện trước khi nhân rộng ra các địa phương khác”, TS. Huỳnh Thế Du - thành viên Viện Sáng kiến Việt Nam, trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam, trao đổi với Kinh tế Sài Gòn.
(KTSG Online) - Trong khi nhiều ngân hàng trung ương thế giới có xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ, Việt Nam lại quyết định hạ lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế. Động thái này dựa trên nhận định áp lực tăng giá trong nước chủ yếu đến từ cú sốc giá năng lượng kéo theo lạm phát do nhập khẩu, cộng thêm sức ép từ tỷ giá và lạm phát chi phí đẩy do doanh nghiệp thấm đòn bởi giá nhiên liệu và vận tải leo thang.
Khát vọng tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là chỉ tiêu kinh tế mà là một mệnh lệnh chính trị đòi hỏi hành động quyết tâm, tư duy đột phá. Tại nghị trường Quốc hội, các đại biểu đã thẳng thắn "bắt đúng mạch, chỉ đúng bệnh" những điểm nghẽn mang tính cấu trúc: Từ hạ tầng số "lõm sóng", nguồn lực đất đai bị đóng băng, đến căn bệnh lãng phí hệ thống và góc khuất trong cải cách giáo dục. Hàng loạt hiến kế mang tính đột phá đã được đưa ra nhằm kiến tạo nền tảng vững chắc cho đất nước vươn mình.
Tăng trưởng xanh đang trở thành định hướng chiến lược cho phát triển dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh các giới hạn sinh thái ngày càng rõ rệt. Các nghiên cứu khoa học hiện đại khẳng định, nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào vốn tự nhiên và dịch vụ hệ sinh thái (Dasgupta, 2021). Nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng thâm dụng tài nguyên, nền kinh tế sẽ đối mặt với rủi ro suy giảm năng suất và bất ổn vĩ mô. Vì vậy, chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, năng suất, năng lượng sạch và quản trị tài nguyên bền vững là yêu cầu tất yếu, tạo nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng cao đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao chất lượng phát triển.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đầu tư hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn, trong khi các kênh dẫn vốn tương ứng vẫn chưa phát triển đầy đủ. Thực tế, nhiều dự án trọng điểm như cao tốc Bắc - Nam, Vành đai 4 hay các nhà máy nhiệt điện đều có sự tham gia của ngân hàng trong vai trò cấp tín dụng. Điều này cho thấy ngân hàng tiếp tục là kênh cung ứng vốn chủ lực, nhưng cũng đồng nghĩa với việc ngành Ngân hàng tiếp tục đối mặt với áp lực lớn về an toàn hệ thống. Do đó, theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, bài toán không chỉ là huy động vốn, mà còn là phân bổ hiệu quả, kiểm soát rủi ro và tái cân bằng thị trường tài chính.
Ngân hàng Nhà nước đã làm việc với các ngân hàng thương mại về khả năng điều chỉnh lại quy định liên quan đến tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), theo đó có thể cho phép đưa một phần tiền gửi Kho bạc Nhà nước trở lại công thức tính LDR, qua đó giảm áp lực thanh khoản cho hệ thống.