Tạo dư địa cho chu kỳ tăng trưởng 2 con số

Hà Nguyễn| 29/07/2026 16:04

Tiếp tục có nhiều đánh giá tích cực về kinh tế Việt Nam 2026. Tuy nhiên, câu chuyện trong hiện thời của nền kinh tế Việt Nam có lẽ không chỉ nằm ở việc làm sao để năm 2026 đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, mà là tạo nền tảng tăng trưởng 2 con số cho cả giai đoạn 2026-2030, thậm chí xa hơn.

Bền bỉ thích ứng, giữ vững đà tăng trưởng

Đang tiếp tục có những đánh giá tích cực về kinh tế Việt Nam, sau khi mức tăng trưởng 8,18% của 6 tháng đầu năm 2026 được công bố. Trong đó, lạc quan nhất có lẽ là Ngân hàng Standard Chartered. Ngân hàng này đã nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam lên 9,5% trong năm 2026 và 11% vào năm 2027.

“Mặc dù những bất ổn toàn cầu và áp lực lạm phát vẫn là các yếu tố cần tiếp tục theo dõi, nhưng Việt Nam bước vào nửa cuối năm từ một vị thế vững chắc. Nhu cầu trong nước mạnh mẽ, đầu tư liên tục vào cơ sở hạ tầng và năng lực sản xuất, cùng với quá trình chuyển đổi kinh tế đang diễn ra, sẽ góp phần củng cố mô hình tăng trưởng cân bằng và bền vững hơn, qua đó hỗ trợ các mục tiêu phát triển dài hạn của Việt Nam”, ông Leelahaphan, Chuyên gia Kinh tế Cấp cao phụ trách Việt Nam và Thái Lan của Standard Chartered nói.

Trang4.jpg
Để tăng trưởng cao trong thời gian tới, Việt Nam cần chuyển sang mô hình dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và khu vực tư nhân trong nước. Ảnh: Đ.T

Khi bình luận về kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026, ông Leelahaphan nhấn mạnh về mức tăng trưởng “vượt kỳ vọng” của nền kinh tế và điều này được hỗ trợ bởi sự khởi sắc của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, khu vực dịch vụ, hoạt động đầu tư và các chính sách thúc đẩy tăng trưởng. “Sức chống chịu” và “khả năng thích ứng” của nền kinh tế Việt Nam cũng là điều được ông Leelahaphan nhắc tới.

Vấn đề hiện nay không chỉ là đạt tốc độ tăng trưởng cao, mà còn phải duy trì tăng trưởng bền vững, có chất lượng và giữ được ổn định vĩ mô.

- Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam

“Vượt kỳ vọng” cũng là cụm từ được Ngân hàng UOB dùng để đánh giá về kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026. Theo ngân hàng này, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông kéo dài và giá năng lượng duy trì ở mức cao, mức tăng trưởng 8,18% không chỉ vượt xa kỳ vọng trước đó của UOB, mà còn phản ánh đà tăng trưởng trên diện rộng của các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và nông nghiệp. Đó cũng chính là lý do UOB dự báo, kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng khoảng 8,5% trong năm nay.

Trong khi đó, trong báo cáo vừa được công bố cách đây ít ngày, chuyên gia của Ngân hàng HSBC nhấn mạnh rằng, sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam tốt hơn kỳ vọng. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà còn ở sự phục hồi và phát huy hiệu quả của nhiều động lực tăng trưởng, bao gồm cả đầu tư công, xuất nhập khẩu, khu vực chế biến, chế tạo và tiêu dùng nội địa. Khi các động lực trong nước phát huy vai trò lớn hơn, nền kinh tế cũng có thêm dư địa để chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài.

Theo ông Vũ Bình Minh, CFA, Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ chứng khoán, HSBC Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam không chỉ vượt qua các khó khăn bên ngoài, mà còn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.

Nhưng có lẽ, đánh giá “đáng giá” nhất chính là việc Ngân hàng Thế giới (WB) vào đầu tháng 7/2026 đã chính thức xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, sau khi tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người đạt 4.970 USD/năm trong năm 2025.

Theo WB, Việt Nam được nâng hạng nhờ duy trì tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu tích cực. Cụ thể, trong 2 năm 2024-2025, kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 15%, còn tăng trưởng GDP lần lượt đạt 7% và 8%. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2021-2025, GNI của Việt Nam tăng trung bình khoảng 10%/năm. Đây là một trong những mức tăng trưởng mà WB cho rằng thuộc diện “bền vững mạnh nhất khu vực”.

Nhận diện các biến số

Dù các dự báo về kinh tế Việt Nam là tích cực, song rõ ràng, các thách thức phía trước là không hề nhỏ. Trong đó, việc làm sao đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 cũng là một áp lực không nhỏ. Tính toán của Bộ Tài chính cho thấy, để cả năm tăng trưởng từ 10% trở lên, 6 tháng cuối năm, phải đạt mức tăng trưởng 11,7%.

Cùng với tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô cũng là vấn đề cần chú ý. Theo ông Vũ Bình Minh, nửa cuối năm, có 3 biến số cần được theo dõi sát, bao gồm cán cân thương mại, lạm phát và tỷ giá, đi cùng mặt bằng lãi suất.

Theo số liệu của Cục Hải quan, tính đến giữa tháng 7/2026, Việt Nam đã nhập siêu tới 20,46 tỷ USD. Dù việc nhập siêu này có thể là do nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu tăng cao trong thời gian qua, nhưng nếu kéo dài, có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng, cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá.

Trong khi đó, Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đã tăng 4,38%, tiệm cận mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đề ra. Tỷ giá dù khá ổn định trong thời gian gần đây, nhưng lãi suất đang là vấn đề được quan tâm rất nhiều.

Chính bởi vậy, theo HSBC, nền kinh tế nhiều khả năng sẽ chịu áp lực lớn hơn trong nửa cuối năm. Và câu hỏi không còn là nền kinh tế có còn động lực tăng trưởng hay không, mà là các sức ép vĩ mô có xuất hiện đồng thời hay không.

Có cùng quan điểm, trong cuộc trao đổi với báo giới mới đây, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam đã nhấn mạnh việc phải lưu ý về áp lực lạm phát, cũng như chuyện nhập khẩu hiện tăng nhanh hơn xuất khẩu và sự phụ thuộc đáng kể vào nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩu từ bên ngoài.

“Vấn đề hiện nay không chỉ là đạt tốc độ tăng trưởng cao, mà còn phải duy trì tăng trưởng bền vững, có chất lượng và giữ được ổn định vĩ mô”, ông Giáp nói.

Giải ngân vốn đầu tư công cũng là vấn đề được ông Giáp nhấn mạnh. Theo ông, điều quan trọng không chỉ là giải ngân nhiều hơn, mà phải là giải ngân đúng trọng điểm và hiệu quả hơn.

Trong khi đó, đề cập các vấn đề dài hơi hơn của nền kinh tế, ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam nhấn mạnh việc mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam còn dựa nhiều vào vốn, bao gồm cả đầu tư nước ngoài, vốn tín dụng ngân hàng, cũng như lợi thế chi phí thấp… Mô hình này đang có những “giới hạn”, khi cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt, nguồn vốn ngắn hạn sẽ khó tạo nguồn tài chính dài hạn cho tăng trưởng…

Tạo dư địa cho chu kỳ tăng trưởng 2 con số

Câu chuyện trong hiện thời của nền kinh tế Việt Nam có lẽ không chỉ nằm ở việc làm sao để năm 2026 đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, trong đó tăng trưởng GDP từ 10% trở lên là quan trọng nhất, mà là tạo nền tảng cho tăng trưởng 2 con số cả giai đoạn 2026-2030, thậm chí xa hơn.

Theo các chuyên gia của ADB, để tăng trưởng cao trong thời gian tới, Việt Nam cần chuyển từ mô hình dựa nhiều vào vốn, lao động, tín dụng và đầu tư nước ngoài sang mô hình dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và khu vực tư nhân trong nước.

Đa dạng hóa các kênh huy động vốn, phát triển thị trường vốn cho tăng trưởng dài hạn, thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực như AI, bán dẫn… cũng là các khuyến nghị được ADB đưa ra. Trong khi đó, với đầu tư công, các chuyên gia của ADB cho rằng, cần đẩy nhanh vào các lĩnh vực sẽ tạo tác động lan tỏa, như hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số, y tế… Những khoản đầu tư này được cho là sẽ vừa hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn, vừa góp phần nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, tạo nền tảng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế trong dài hạn.

Gia tăng đầu tư nhưng điều quan trọng là hiệu quả đầu tư, đặc biệt là với đầu tư công. Để thúc đẩy tăng trưởng, Chính phủ đang quyết tâm thực hiện mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công trong năm nay. Tuy vậy, theo ông Lê Thành Quân, Vụ trưởng Vụ Phát triển hạ tầng (Bộ Tài chính), giải ngân nhanh chỉ là điều kiện cần, mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả đầu tư.

Để nâng cao hiệu quả đầu tư, Chính phủ đã đặt mục tiêu giảm Hệ số ICOR xuống còn 4,5-4,8. Đây là một thách thức không nhỏ, bởi thực tế 5 năm 2016-2020, Hệ số ICOR chỉ giảm được 0,34 điểm (từ 6,77 của giai đoạn 2016-2020 xuống còn 6,43 trong giai đoạn 2021-2025). Trong khi đó, bài toán của giai đoạn 5 năm 2026-2030, Hệ số ICOR phải giảm tới 1,6 - 1,9 điểm.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, để thúc đẩy tăng trưởng, giai đoạn 2026-2030, vốn đầu tư toàn xã hội phải ở mức 40% GDP. Tuy nhiên, nếu không cải thiện được Hệ số ICOR, để tăng trưởng 2 con số, tổng đầu tư toàn xã hội phải lên tới 70% GDP.

Bởi thế, một trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng chính là nâng cao hiệu quả đầu tư. Cùng với đó, theo khẳng định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, phải đưa thể chế trở thành nguồn lực, động lực cho phát triển.

Bài liên quan
  • Khơi thông mọi nguồn lực cho tăng trưởng
    Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn tới đòi hỏi Việt Nam phải huy động được nguồn lực đầu tư rất lớn. Có thể thấy bài toán nguồn lực cho tăng trưởng không thể được giải quyết bằng một công cụ hay một kênh dẫn vốn riêng lẻ. Việt Nam cần một chiến lược tài chính quốc gia đồng bộ.

(0) Bình luận
Nổi bật Tin tức IDS
Đừng bỏ lỡ
Tạo dư địa cho chu kỳ tăng trưởng 2 con số
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO