Một số rào cản trong cho vay tài trợ phát triển công nghệ xanh
Nhật Trung / Trường Đại học Hòa Bình|21/12/2022 09:17
Khu vực tài chính có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, sẽ khó có thể thúc đẩy việc phân bổ lại các nguồn lực cần thiết nếu thiếu hoạch định chính sách môi trường thích hợp trong nền kinh tế thực. Những kỳ vọng không thực tế có thể làm suy yếu sự ổn định tài chính và làm hỏng quá trình chuyển đổi xanh.
Xanh hóa nền kinh tế - giảm lượng khí thải carbon để giảm rủi ro vật chất liên quan đến hiểm họa khí hậu, đòi hỏi phải phân bổ lại các nguồn lực từ các ngành công nghiệp nâu sử dụng nhiều khí thải, hướng tới các hoạt động xanh. Tuy nhiên, để giải quyết bài toán này, lĩnh vực tài chính phải đối mặt với một số vấn đề tương tự như trong nền kinh tế thực (Claudio Borio et al., 2022). Ví dụ, phân bổ chi phí giữa thế hệ hiện tại và tương lai (các thế hệ tương lai sẽ nhận được lợi ích, trong khi chi phí rơi vào các công dân hiện tại), và trong xã hội thì những bộ phận dân cư dễ bị tổn thương nhất sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi chi phí gia tăng do giá năng lượng tăng cao. Điều này đã làm suy yếu các động lực thúc đẩy “xanh hóa” nền kinh tế.
Sự đóng góp của thị trường tài chính vào quá trình chuyển đổi xanh trong nền kinh tế cũng được đánh giá là còn hạn chế, mặc dù có một số bằng chứng cho thấy tài chính xanh có tác động đến giá trị tài sản và dòng vốn cho vay của ngân hàng, nhưng không có bằng chứng thuyết phục qua kết quả thực tế. Ví dụ, bộ tiêu chuẩn ESG (Environmental, Social, Governance) thường phản ánh các hành động đã công bố về giảm lượng khí thải carbon của các doanh nghiệp, chứ không phải là các biện pháp mà họ thực hiện; mặt khác, phí bảo hiểm rủi ro giao dịch của các công cụ nợ tăng không đáng kể khi lượng khí thải carbon của doanh nghiệp phát hành tăng lên (Beatrice Weder di Mauro, 2021).
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế ảnh hưởng của thị trường tài chính đối với sự phát triển của công nghệ xanh là do thiếu chính sách khuyến khích các nhà đầu tư và người cho vay đầu tư vào các công nghệ có khả năng sinh lời thể hiện ở cơ cấu danh mục đầu tư hiện có của họ (Hans Degryse et al., 2022). Công nghệ xanh có ảnh hưởng lớn đến vị thế của các doanh nghiệp nâu, làm giảm giá trị các khoản đầu tư trước đó. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến quan điểm ủng hộ việc thành lập các tổ chức tài chính chuyên biệt.
Chính sách an toàn vi mô có thể giải quyết vấn đề khuyến khích tài trợ các công nghệ xanh Ảnh: Internet
Các “ngoại tác”
Dữ liệu lý thuyết và phân tích mô hình thực nghiệm cho thấy, việc áp dụng các công nghệ xanh của một doanh nghiệp mới gây ra các ngoại tác tiêu cực cho một doanh nghiệp nâu đang hoạt động trên thị trường. Một nhà đầu tư chỉ quan tâm đến việc cung cấp vốn cho một doanh nghiệp xanh nếu khoản thu từ lợi nhuận đủ bù đắp cho những khoản lỗ vì sự sụt giảm giá trị hoặc là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nâu, nếu không, nhà đầu tư sẽ từ chối đầu tư vào một dự án mới, ngay cả khi nó có lãi.
Trong môi trường cạnh tranh giữa các nhà đầu tư, khả năng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư cho một doanh nghiệp xanh phụ thuộc vào cách phân bổ “rủi ro ngoại tác” nêu trên giữa các danh mục của nhà đầu tư đối với các doanh nghiệp nâu đang hoạt động trong nền kinh tế. Nếu rủi ro không như nhau (ví dụ, tỷ trọng các danh mục đầu tư của các doanh nghiệp nâu khác nhau), thì chỉ cần một doanh nghiệp xanh có đủ lợi nhuận để bù đắp cho các khoản lỗ của danh mục đầu tư có tỷ trọng tài trợ nâu nhỏ nhất là đủ. Hơn nữa, lúc đó các nhà đầu tư khác cũng sẽ được khuyến khích đầu tư vào doanh nghiệp xanh, vì họ có ít cơ hội hơn để tránh những tác động của sự phát triển công nghệ xanh đối với danh mục đầu tư nâu của họ.
Do đó, tỷ trọng công nghệ nâu trong các danh mục đầu tư tài chính càng lớn thì hệ thống tài chính càng có ít động lực để hỗ trợ phát triển hoặc phân phối công nghệ xanh mới. Tuy nhiên, sự hiện diện của các nhà đầu tư ít hoặc không bị tác động bởi các ngoại tác của công nghệ mới sẽ kích hoạt cung tín dụng của toàn hệ thống.
Mô hình thực nghiệm cũng cho phép mô tả các phương thức tài trợ vốn trên các thị trường thứ cấp có thanh khoản thấp, như nợ doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng hoặc cổ phiếu trong các danh mục đầu tư của các quỹ, như quỹ mạo hiểm. Với cơ hội chứng khoán hóa, các nhà đầu tư có thể loại bỏ các tài sản có khả năng “xấu đi” vì công nghệ mới trên bảng cân đối kế toán với chi phí không đáng kể. Ngoài ra, mô hình dựa trên giả định rằng nhà đầu tư biết được danh mục đầu tư của những người khác - tiền đề này trên thực tế có thể được thỏa mãn bằng yêu cầu công khai những thông tin liên quan đến các bài kiểm tra sức chịu đựng khí hậu (Ольга Волкова, 2022).
Các đối thủ cạnh tranh xanh
Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra dự báo của họ dựa trên dữ liệu về các khoản vay do các ngân hàng Bỉ cung cấp. Lưu ý rằng, các ngân hàng dễ đối mặt với các rủi ro gắn với quá trình chuyển đổi xanh: Trong năm 2016, vốn tài trợ của các ngân hàng cho các doanh nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch ở EU chiếm 43% tổng vốn tài trợ. Đồng thời, nền kinh tế Bỉ chủ yếu dựa vào tài trợ của ngân hàng; và cấu trúc của hệ thống ngân hàng tương đối đồng nhất.
Doanh nghiệp xanh có thể phân thành hai loại: (i) Các doanh nghiệp đổi mới, phát triển các công nghệ xanh; và (ii) Các doanh nghiệp phân phối, thúc đẩy ứng dụng những công nghệ này. Dựa trên dữ liệu từ các doanh nghiệp Bỉ giai đoạn 2008 - 2018, các nhà nghiên cứu đã kết luận, các doanh nghiệp xanh, bao gồm cả doanh nghiệp đổi mới và nhà phân phối - đều tạo ra ngoại tác tiêu cực đối với các doanh nghiệp nâu. Ví dụ, sự gia nhập của một đối thủ cạnh tranh xanh vào thị trường sản phẩm của một doanh nghiệp nâu làm giảm doanh số bán hàng cho các hộ gia đình xuống 6,7% và cho các công ty là 2,2%. Nếu các doanh nghiệp cùng một lĩnh vực công nghệ, thì những đổi mới xanh của các đối thủ cạnh tranh sẽ làm tăng khả năng sụt giảm giá trị tài sản của các doanh nghiệp nâu (Hans Degryse et al., 2022).
Tất cả những rủi ro này đều được các ngân hàng tính đến. Ví dụ, việc mở rộng sự hiện diện của các doanh nghiệp xanh trên thị trường của một doanh nghiệp nâu dẫn đến việc xem xét lại chỉ báo về xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp đó. Điều này cũng sẽ gây rủi ro đáng kể trong tổng danh mục cho vay của ngân hàng.
Các nhà nghiên cứu ước tính rằng, xác suất nhận được khoản vay ngân hàng của một doanh nghiệp đổi mới xanh giảm khoảng 4,4 điểm phần trăm (1 điểm phần trăm đối với nhà phân phối công nghệ) nếu hoạt động của họ làm xấu danh mục tài sản của mỗi ngân hàng một độ lệch chuẩn. Tuy nhiên, ngân hàng có tỷ trọng khách hàng vay là các doanh nghiệp nâu nhỏ nhất sẽ cho các doanh nghiệp xanh vay vốn với xác suất trung bình là 8,4 điểm phần trăm, cao hơn bất kỳ ngân hàng nào trong hệ thống. Điều này có thể thay đổi căn bản tình hình, bởi vì các ngân hàng như vậy sẽ góp phần loại bỏ rào cản đối với sự đột phá về công nghệ. Sự sẵn sàng tham gia của những người cho vay như vậy sẽ khuyến khích cung tín dụng từ toàn bộ hệ thống - bao gồm cả các tổ chức tín dụng có danh mục đầu tư bị ảnh hưởng nhiều bởi công nghệ mới (Ольга Волкова, 2022).
Những kết quả này chỉ ra rằng, việc thành lập các trung gian tài chính với các ưu đãi không bị bóp méo bởi cấu trúc của danh mục đầu tư có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự gia nhập ngành của các doanh nghiệp xanh có khả năng sinh lời, bất chấp những ngoại tác tiêu cực mà chúng có thể gây ra cho các doanh nghiệp và các tổ chức cho vay khác. Vì vậy, các sáng kiến “ngân hàng xanh công” như Ngân hàng Đầu tư Xanh của Vương quốc Anh hoặc Ngân hàng Xanh New York có thể là chìa khóa để loại bỏ các rào cản gia nhập ngành đối với các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả năng lượng.
Ngoài ra, chính sách an toàn vi mô có thể giải quyết vấn đề khuyến khích tài trợ các công nghệ xanh. Ví dụ, điều chỉnh trọng số rủi ro đối với tài sản xanh và nâu (giảm đối với tài sản xanh và tăng đối với tài sản nâu), điều chỉnh các yêu cầu dự trữ hoặc chính sách thuế theo hướng "xử phạt" việc sử dụng các tài sản dễ bị tác động bởi các ngoại tác tiêu cực do ứng dụng các công nghệ xanh.
1Trong phạm vi bài viết, doanh nghiệp nâu, một thuật ngữ mang tính tương đối, được hiểu là doanh nghiệp không tham gia vào các hoạt động xanh, trái ngược với doanh nghiệp xanh, là doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động xanh (quản lý chất thải và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn).
Tài liệu tham khảo
1. Beatrice Weder di Mauro (2021). Combatting climate change: A CEPR collection, 2021, CEPR Press. 2. Claudio Borio, Stijin Claessens, Nikola Tarashev (2022). “Finance and climate change risk: Managing expectations. https://cepr.org/voxeu/columns/finance-and-climate-change-risk-managing-expectations (truy cập ngày 06/10/2022). 3. Degryse Hans., Roukny T., Tielens J., (2022). DP17507 Asset Overhang and Technological Change. CEPR Press Discussion Paper No 17507. https://cepr.org/publications/dp17507 (truy cậpngày 06/10/2022). 4. Ольга Волкова (2022). Зеленые технологии и банки: проблема стимула. https://econs.online/articles/ekonomika/zelenye-tekhnologii-i-banki-problema-stimula/ (truy cậpngày 24/11/2022).
Khái niệm chuyển đổi số phải được hiểu và dùng cho chính xác hơn, để tránh việc nhiều người hiểu rằng chỉ có các NH thực hiện chuyển đổi số, mà quên đi vai trò rất quan trọng của các DN fintech, hay DN trong lĩnh vực công nghệ khác.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Sau hơn 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững hơn. Các chuyên gia cho rằng, kinh tế số sẽ là động lực then chốt, nhưng để phát huy hiệu quả cần đồng bộ từ thể chế, doanh nghiệp đến tư duy đầu tư.
Nghị quyết 57-NQ/TW là điểm khởi đầu của một hành trình mới - hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số với tư cách một quốc gia sáng tạo, một nền kinh tế tri thức và một xã hội đổi mới. Trong kỷ nguyên ấy, Việt Nam không chỉ tham gia cuộc chơi, mà có thể góp phần định hình cuộc chơi.
Kinh tế số Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng, trở thành một trong những điểm sáng của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, kinh tế số không chỉ cần mở rộng quy mô mà còn đòi hỏi sự chuyển dịch về cấu trúc, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hấp thụ của toàn bộ nền kinh tế.
Trí tuệ nhân tạo đang mở ra một kỷ nguyên kỹ thuật số mới. Bên cạnh hào hứng về những khía cạnh tích cực, cũng có những lo ngại ngày càng tăng về tác động tiêu cực của AI đối với môi trường. Công nghệ AI đang gây ra bao nhiêu thiệt hại cho hành tinh của chúng ta, và chúng ta làm gì để khắc phục điều đó?
Kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với đà phục hồi tích cực, song áp lực ổn định vĩ mô cũng gia tăng rõ nét. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết: để đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần những chuyển đổi mang tính cấu trúc, đi cùng cách tiếp cận chính sách linh hoạt và chủ động hơn.
Nghị quyết 57-NQ/TW là điểm khởi đầu của một hành trình mới - hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số với tư cách một quốc gia sáng tạo, một nền kinh tế tri thức và một xã hội đổi mới. Trong kỷ nguyên ấy, Việt Nam không chỉ tham gia cuộc chơi, mà có thể góp phần định hình cuộc chơi.
Sau hơn 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững hơn. Các chuyên gia cho rằng, kinh tế số sẽ là động lực then chốt, nhưng để phát huy hiệu quả cần đồng bộ từ thể chế, doanh nghiệp đến tư duy đầu tư.
Kinh tế số Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng, trở thành một trong những điểm sáng của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, kinh tế số không chỉ cần mở rộng quy mô mà còn đòi hỏi sự chuyển dịch về cấu trúc, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hấp thụ của toàn bộ nền kinh tế.
Trí tuệ nhân tạo đang mở ra một kỷ nguyên kỹ thuật số mới. Bên cạnh hào hứng về những khía cạnh tích cực, cũng có những lo ngại ngày càng tăng về tác động tiêu cực của AI đối với môi trường. Công nghệ AI đang gây ra bao nhiêu thiệt hại cho hành tinh của chúng ta, và chúng ta làm gì để khắc phục điều đó?
Kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với đà phục hồi tích cực, song áp lực ổn định vĩ mô cũng gia tăng rõ nét. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết: để đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần những chuyển đổi mang tính cấu trúc, đi cùng cách tiếp cận chính sách linh hoạt và chủ động hơn.
Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển nhanh chóng, nơi mọi nền tảng đều cạnh tranh khốc liệt để giành lấy thời gian và sự chú ý của người dùng, một hiện tượng đáng chú ý đang dần hình thành: “annoyance economy” - “nền kinh tế gây phiền nhiễu”.
Khu đất rộng hơn 46 ha tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, nơi xây dựng Trung tâm hành chính và Quảng trường trung tâm TP.HCM đã sẵn sàng triển khai. Dự án gần 30.000 tỷ đồng được kỳ vọng tạo điểm nhấn mới cho không gian đô thị.
Tìm kiếm trên Internet nay đã khác trước. Trước đây chúng ta gõ vào cụm từ muốn tìm, chờ Google trả về kết quả và vào đọc vài ba đường dẫn đầu trang để tìm thông tin liên quan, khá mất thời gian và ít khi tìm đúng nội dung muốn tìm ngay lập tức.
Trong bối cảnh kinh tế số tăng nhanh, nhưng đang có sự suy giảm của các yếu tố chiều sâu như công nghệ, quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam đang tạo ra giá trị hay chỉ dừng ở “gia công số”?
Những ngày đầu của nhiệm kỳ mới, loạt chỉ đạo từ Trung ương đến Chính phủ cho thấy nhịp điều hành nhanh hơn và đi thẳng vào những điểm nghẽn nhiều năm trong môi trường kinh doanh. Yêu cầu cải cách được cụ thể hóa bằng mốc thời gian, chỉ tiêu cắt giảm và trách nhiệm rõ ràng của từng bộ, ngành. Tất cả nhằm kiến tạo môi trường thuận lợi để kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, đánh thức nội lực tăng trưởng.
Việc triển khai các nghị quyết lớn về phát triển kinh tế Việt Nam đặt ra yêu cầu khu vực kinh tế nhà nước phải thực sự phát huy vai trò “đầu tàu”, tiên phong, dẫn dắt. Các chuyên gia cho rằng: Để thực hiện được mục tiêu trên, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, trao quyền thực chất cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và phân định rõ ràng vai trò với khu vực tư nhân, qua đó tạo sự bổ trợ thay vì cạnh tranh, nhằm khai thác tối đa nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Ngân hàng Việt Nam đang chứng kiến làn sóng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) lan rộng trên toàn hệ thống. Từ chăm sóc khách hàng, thẩm định tín dụng đến quản trị vận hành và phát triển sản phẩm, AI dần trở thành “trục xương sống” trong chiến lược chuyển đổi số của các TCTD.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho rằng, tăng trưởng cao và bền vững là yếu tố gắn bó chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, được ví như "hai cánh của một con chim". Và chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu bắt buộc để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, bắt kịp, tiến cùng khu vực và thế giới, thực hiện 2 mục tiêu 100 năm.
“Việc giao cho TPHCM tiên phong xây dựng và triển khai “bản đồ huy động nguồn lực” không chỉ hợp lý mà còn cần thiết. Có thể xem đây như một “phòng thí nghiệm chính sách”, nơi các mô hình huy động vốn hiện đại được thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện trước khi nhân rộng ra các địa phương khác”, TS. Huỳnh Thế Du - thành viên Viện Sáng kiến Việt Nam, trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam, trao đổi với Kinh tế Sài Gòn.
(KTSG Online) - Trong khi nhiều ngân hàng trung ương thế giới có xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ, Việt Nam lại quyết định hạ lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế. Động thái này dựa trên nhận định áp lực tăng giá trong nước chủ yếu đến từ cú sốc giá năng lượng kéo theo lạm phát do nhập khẩu, cộng thêm sức ép từ tỷ giá và lạm phát chi phí đẩy do doanh nghiệp thấm đòn bởi giá nhiên liệu và vận tải leo thang.
Khát vọng tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là chỉ tiêu kinh tế mà là một mệnh lệnh chính trị đòi hỏi hành động quyết tâm, tư duy đột phá. Tại nghị trường Quốc hội, các đại biểu đã thẳng thắn "bắt đúng mạch, chỉ đúng bệnh" những điểm nghẽn mang tính cấu trúc: Từ hạ tầng số "lõm sóng", nguồn lực đất đai bị đóng băng, đến căn bệnh lãng phí hệ thống và góc khuất trong cải cách giáo dục. Hàng loạt hiến kế mang tính đột phá đã được đưa ra nhằm kiến tạo nền tảng vững chắc cho đất nước vươn mình.
Tăng trưởng xanh đang trở thành định hướng chiến lược cho phát triển dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh các giới hạn sinh thái ngày càng rõ rệt. Các nghiên cứu khoa học hiện đại khẳng định, nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào vốn tự nhiên và dịch vụ hệ sinh thái (Dasgupta, 2021). Nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng thâm dụng tài nguyên, nền kinh tế sẽ đối mặt với rủi ro suy giảm năng suất và bất ổn vĩ mô. Vì vậy, chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, năng suất, năng lượng sạch và quản trị tài nguyên bền vững là yêu cầu tất yếu, tạo nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng cao đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao chất lượng phát triển.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đầu tư hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn, trong khi các kênh dẫn vốn tương ứng vẫn chưa phát triển đầy đủ. Thực tế, nhiều dự án trọng điểm như cao tốc Bắc - Nam, Vành đai 4 hay các nhà máy nhiệt điện đều có sự tham gia của ngân hàng trong vai trò cấp tín dụng. Điều này cho thấy ngân hàng tiếp tục là kênh cung ứng vốn chủ lực, nhưng cũng đồng nghĩa với việc ngành Ngân hàng tiếp tục đối mặt với áp lực lớn về an toàn hệ thống. Do đó, theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, bài toán không chỉ là huy động vốn, mà còn là phân bổ hiệu quả, kiểm soát rủi ro và tái cân bằng thị trường tài chính.
Ngân hàng Nhà nước đã làm việc với các ngân hàng thương mại về khả năng điều chỉnh lại quy định liên quan đến tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), theo đó có thể cho phép đưa một phần tiền gửi Kho bạc Nhà nước trở lại công thức tính LDR, qua đó giảm áp lực thanh khoản cho hệ thống.