Khát vọng tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là chỉ tiêu kinh tế mà là một mệnh lệnh chính trị đòi hỏi hành động quyết tâm, tư duy đột phá. Tại nghị trường Quốc hội, các đại biểu đã thẳng thắn "bắt đúng mạch, chỉ đúng bệnh" những điểm nghẽn mang tính cấu trúc: Từ hạ tầng số "lõm sóng", nguồn lực đất đai bị đóng băng, đến căn bệnh lãng phí hệ thống và góc khuất trong cải cách giáo dục. Hàng loạt hiến kế mang tính đột phá đã được đưa ra nhằm kiến tạo nền tảng vững chắc cho đất nước vươn mình.

Không thể bứt phá nếu đất đai "đóng băng", miền núi "trắng sóng"
Đại biểu Lý Thị Lan (Tuyên Quang) chỉ rõ sự lệch pha trong phát triển hạ tầng số tại các vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số. Điển hình tại Tuyên Quang, địa phương vẫn còn 41 thôn chưa có điện, 357 thôn xóm có điện nhưng chưa ổn định và 199 thôn còn trắng sóng, lõm sóng. Chính quyền số hay xã hội số sẽ là bất khả thi nếu hạ tầng cơ bản như điện và viễn thông chưa được bảo đảm ổn định. Để giải quyết bài toán này, đại biểu đề xuất cần tổ chức đầu tư theo hướng tích hợp điện, viễn thông và hạ tầng số vào cùng một chương trình, đồng thời tính đúng, tính đủ định mức chi phí đầu tư cho các địa bàn đặc biệt khó khăn.
Bên cạnh nút thắt hạ tầng, nguồn lực đất đai tại nhiều địa phương cũng đang bị "trói buộc" bởi các quy hoạch và rào cản pháp lý. Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) phản ánh thực trạng quy hoạch khai thác titan tại Lâm Đồng theo Quyết định 866 đang chồng lấn diện tích rất lớn với khu dân cư và hạ tầng. Việc giữ diện tích quy hoạch quá lớn chưa thể khai thác trong nhiều năm thực chất đang làm "đóng băng" nguồn lực đất đai của địa phương. Do đó, đại biểu kiến nghị cần chuyển từ tư duy quy hoạch tĩnh sang quy hoạch động, rà soát loại bỏ những khu vực không còn phù hợp.
Cùng chung nỗi lo về đất đai, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) nêu lên những bất cập tại các công ty nông lâm nghiệp. Việc quản lý lỏng lẻo đã dẫn đến tình trạng người dân lấn chiếm, xâm canh diện tích lên tới 127.000 ha, làm phát sinh nhiều tranh chấp khiếu kiện phức tạp, kéo dài. Để khơi thông nguồn lực này, đại biểu kiến nghị Chính phủ xây dựng đề án trình Bộ Chính trị, từ đó làm cơ sở để Quốc hội ban hành nghị quyết về cơ chế chính sách đặc thù nhằm xử lý vướng mắc đất đai có nguồn gốc nông lâm trường.

Quản trị nguồn lực và chống lãng phí cần áp dụng "kỷ luật thép"
Để dòng vốn thực sự sinh lời, công tác chống lãng phí là nhiệm vụ sống còn. Đại biểu Ly Kiều Vân (Quảng Trị) thẳng thắn chỉ ra rằng lãng phí hiện nay không còn đơn lẻ mà đã mang tính hệ thống, tinh vi nhưng việc xử lý lại thường chỉ dừng ở mức độ "rút kinh nghiệm chung", không rõ ai chịu trách nhiệm chính. Đại biểu đề xuất siết chặt kỷ cương đầu tư công theo nguyên tắc "3 không": Không đủ điều kiện thì không khởi công, không hiệu quả thì kiên quyết dừng, không xác định rõ trách nhiệm thì không phê duyệt. Đồng thời, cần sớm nghiên cứu ban hành bộ tiêu chí quốc gia về lãng phí để lượng hóa và giám sát thực chất.
Bổ sung cho vấn đề quản trị nguồn lực đầu tư công, đại biểu Trần Văn Khải (Ninh Bình) cảnh báo về rủi ro lạc hậu công nghệ và lãng phí trong các dự án số. Do vòng đời công nghệ ngắn nhưng quy trình đầu tư rất dài, đại biểu kiến nghị áp dụng mua sắm theo kết quả, triển khai mô hình tiêu chuẩn mở và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để linh hoạt hóa và giảm thiểu rủi ro lạc hậu công nghệ.

Nhân lực công nghệ lõi và chuẩn hóa môi trường giáo dục là then chốt
Tăng trưởng bứt phá đòi hỏi làm chủ công nghệ, và yếu tố cốt lõi để làm chủ công nghệ chính là con người. Đại biểu Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) chỉ ra một điểm nghẽn lớn: Nước ta có nhiều kết quả nghiên cứu nhưng lại thiếu đội ngũ nhân lực tích hợp có khả năng tổ chức triển khai ở quy mô lớn để đưa kết quả ra thị trường. Dẫn chứng sự thành công của các quốc gia như Hà Lan hay Israel, đại biểu đề xuất hình thành các chương trình đào tạo nhân lực nòng cốt cấp quốc gia, tập trung vào đội ngũ làm chủ công nghệ lõi thay vì đào tạo đại trà. Trong lĩnh vực chuyên biệt như điện hạt nhân, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cũng cảnh báo sự hạn chế của nguồn nhân lực cơ quan pháp quy hạt nhân, kiến nghị phát triển hệ thống các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật quốc gia (TSU) chuyên nghiệp để làm chủ các công cụ phân tích hiện đại.
Việc phát triển nhân lực công nghệ số cũng cần gắn liền với yếu tố bình đẳng giới. Đại biểu Nguyễn Thanh Cầm (Đồng Tháp) trích dẫn số liệu đáng suy ngẫm: Trên thế giới, phụ nữ tham gia phát triển AI chỉ chiếm 31%; tại Việt Nam, tỷ lệ nữ làm chủ nhiệm đề tài trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật chỉ đạt 26,6%. Từ thực tế này, đại biểu kiến nghị bổ sung các mục tiêu, chỉ số cụ thể về lĩnh vực khoa học công nghệ vào chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030.
Các đại biểu cũng cho rằng, nền tảng của mọi nguồn nhân lực bắt nguồn từ giáo dục. Đại biểu Nguyễn Thị Thủy (Thái Nguyên) đã lên tiếng về bức xúc của phụ huynh khi nhiều trường công lập tổ chức các chương trình học liên kết xen kẽ với giờ học chính khóa. Việc này khiến những học sinh không đăng ký tham gia phải tách ra sinh hoạt riêng, nảy sinh tâm lý mặc cảm. Đại biểu kiến nghị nghiêm cấm triệt để việc xếp chương trình học liên kết xen kẽ giờ chính khóa, đồng thời yêu cầu công khai minh bạch tài chính đối với các trường công. Bên cạnh đó, đại biểu Thủy phản ánh việc thay đổi quy chế tuyển sinh đại học (như năm 2026) được ban hành quá cận ngày thi (chỉ cách hơn 3 tháng) gây áp lực lớn và tâm lý thấp thỏm, đòi hỏi Bộ Giáo dục và Đào tạo phải có thời gian nghiên cứu và lộ trình ban hành phù hợp hơn để phụ huynh và học sinh có sự chuẩn bị.