Mục tiêu lạm phát tối ưu: Ý kiến của 600 nhà kinh tế
TS. Nguyễn Đình Trung Trường Đại học Hòa Bình|17/11/2022 10:47
Trong một cuộc khảo sát với hơn 600 nhà kinh tế, hầu hết những người được hỏi muốn Ngân hàng Trung ương (NHTW) của họ có một mục tiêu lạm phát rõ ràng. Gần một nửa đáp viên muốn NHTW giữ mục tiêu hiện tại. Hai phần ba số còn lại muốn tăng mục tiêu, với mức tăng bình quân một điểm phần trăm.....
Tóm tắt
Trong một cuộc khảo sát với hơn 600 nhà kinh tế, hầu hết những người được hỏi muốn Ngân hàng Trung ương (NHTW) của họ có một mục tiêu lạm phát rõ ràng. Gần một nửa đáp viên muốn NHTW giữ mục tiêu hiện tại. Hai phần ba số còn lại muốn tăng mục tiêu, với mức tăng bình quân một điểm phần trăm. Trong một kịch bản giả định, NHTW không có tiền sử lạm phát mục tiêu, thêm 12% số người được hỏi sẽ thích một mục tiêu khác (thường cao hơn) so với mục tiêu hiện tại. Kết quả này cho thấy rằng cái giá cho việc thay đổi mục tiêu hiện tại khiến một số đáp viên không muốn thay đổi mục tiêu thực tế. Đối với những đáp viên có lo ngại về sự tín nhiệm của NHTW, họ sẽ ít có khả năng ủng hộ việc tăng mục tiêu. Ngược lại, quan điểm tăng mục tiêu lạm phát có nhiều khả năng xuất phát từ những người lo ngại về mức giới hạn dưới bằng 0 đối với lãi suất danh nghĩa.
Đặt vấn đề
Hơn một nửa các nhà kinh tế hàng đầu thế giới tin rằng nên duy trì các mục tiêu lạm phát hiện có của các NHTW, hơn là thay đổi chúng. Một cuộc khảo sát với 600 nhà kinh tế cho thấy cái giá phải trả cho sự thay đổi này là làm suy giảm niềm tin vào các NHTW.
Câu hỏi then chốt của hệ thống lạm phát mục tiêu là: Mục tiêu lạm phát phải ở mức nào? Theo các cơ sở lý thuyết và thực tiễn, NHTW ở các nước phát triển đã thiết lập mức mục tiêu của lạm phát là 2%. Tuy nhiên, hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu - những năm lạm phát thấp và việc đạt mức giới hạn dưới hiệu lực (Effective lower bound, ELB)1, hạn chế khả năng cắt giảm lãi suất của các NHTW, đã dấy lên nghi ngờ về sự đồng thuận này. Một trong những đề xuất có thể làm giảm khả năng tái diễn vấn đề này trong tương lai là ý tưởng tăng mục tiêu lạm phát (Ball, L, (2013) và Krugman, P, (2014)).
Một nghiên cứu mới của Ambrocio và các cộng sự (2022) góp phần vào cuộc tranh luận này, có sử dụng phương pháp khảo sát ý kiến chuyên gia về mục tiêu lạm phát và các vấn đề liên quan đến chính sách tiền tệ, với phản hồi từ hơn 600 nhà kinh tế trên toàn thế giới. Mẫu khảo sát được thực hiện vào cuối năm 2020 bao gồm 10% các nhà nghiên cứu hàng đầu trong bảng xếp hạng RePEc (Research Papers in Economics), cũng như các nhà nghiên cứu liên quan trực tiếp từ Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế châu Âu (CEPR) và Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ (NBER). Phần lớn những người tham gia khảo sát đến từ Mỹ (đạt 39%) và Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Khu vực đồng Euro) là 26%.
Các kết luận chính của nghiên cứu như sau:
(i) Hầu hết những người được hỏi muốn NHTW có các mục tiêu bổ sung ngoài mục tiêu duy trì ổn định giá cả; (ii) Phần lớn những người ủng hộ lạm phát mục tiêu ủng hộ việc duy trì giá trị hiện tại của mục tiêu. Đồng thời, trong số những người ủng hộ việc thay đổi mục tiêu, có 2/3 ủng hộ việc nâng cao mục tiêu đó; (iii) Lập luận chủ yếu ủng hộ việc duy trì mức mục tiêu hiện tại có liên quan đến một thực tế là, cái giá phải trả cho việc thay đổi nó sẽ làm giảm niềm tin vào các NHTW và lập luận chính ủng hộ việc tăng mục tiêu lạm phát là lo ngại về việc đạt ELB; (iv) Chỉ có 25% số người được hỏi ủng hộ việc tăng mục tiêu lạm phát sau khi lãi suất thực cân bằng giảm liên tục (r*: mức lãi suất đảm bảo nền kinh tế phát triển ở mức tiềm năng và lạm phát đạt mức mục tiêu của NHTW).
Mục tiêu của NHTW
Sau một thời kỳ lạm phát cao trong những năm 1970, trọng tâm của chính sách tiền tệ đã chuyển hướng đáng kể theo hướng duy trì ổn định giá cả. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng năm 2008 - giai đoạn giá cả tương đối ổn định nhưng mức độ bất ổn tài chính cao và biến động thất nghiệp lớn - một số nhà phê bình đã đặt câu hỏi về sự cân bằng phù hợp giữa ổn định giá cả và các mục tiêu khác của chính sách tiền tệ.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu đã đề nghị những người tham gia khảo sát nêu quan điểm của họ về các mục tiêu cần có của NHTW trong lĩnh vực chính sách tiền tệ. Nhìn chung, việc ủng hộ các NHTW có những mục tiêu khác ngoài ổn định giá là rõ ràng. “Ổn định giá và (các) mục tiêu khác có trọng số bằng nhau” nhận được sự ủng hộ rộng rãi nhất (48%), tiếp theo là “Ổn định giá và (các) mục tiêu phụ” (38%). Chỉ 14% số người được hỏi ủng hộ mục tiêu duy nhất là ổn định giá cả. Trong số những người giải thích thêm về quan điểm của họ, ba mục tiêu phổ biến nhất là: (i) Việc làm, với nhiều hình thái khác nhau như “thất nghiệp”, “việc làm” và “toàn dụng nhân công”; (ii) Ổn định tài chính; và (iii) Tăng trưởng kinh tế/sản lượng (Biểu đồ 1).
Nhiệm vụ kép theo kiểu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - Fed (Fed thực hiện hai mục tiêu cùng một lúc - duy trì sự ổn định giá cả và việc làm ổn định tối đa), có sự ủng hộ cao hơn đáng kể trong số những người được hỏi tại Mỹ. Ngược lại, những người được hỏi ở châu Âu (nhiệm vụ của NHTW châu Âu chỉ giới hạn ở một mục tiêu chính - duy trì sự ổn định giá cả) được chia đều thành những người ủng hộ ECB có thêm một mục tiêu phụ và những người ủng hộ một mục tiêu kép.
Biểu đồ 1: Các mục tiêu của NHTW
Nguồn: Ambrocio, G., A., Ferrero, E. Jokivuolle and K. Ristolainen, "What should the inflation target be? Views from 600 economists", CEPR Discussion Paper 17289 and Bank of Finland Research Discussion Paper 7/2022
Để trả lời câu hỏi NHTW nên tập trung vào chỉ số giá nào trong số các chỉ số giá hiện tại khi điều hành chính sách tiền tệ, nghiên cứu cho thấy số phiếu ủng hộ ý tưởng sử dụng chỉ số giá tiêu dùng chung (CPI) và chỉ số giá tiêu dùng cơ bản (CPI không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) - lần lượt là 25% và 27%.
Những người châu Âu được hỏi ưa thích chỉ số mà NHTW châu Âu (ECB) hiện đang sử dụng - chỉ số CPI tổng thể (Chỉ số giá tiêu dùng đã cân đối, Harmonised Index of Consumer Prices - HICP): 33% các nhà kinh tế châu Âu được khảo sát đã bỏ phiếu cho chỉ số này so với 25% trong toàn bộ mẫu và chỉ 11% trong số các nhà kinh tế Mỹ. Những người tham gia cuộc khảo sát ở Mỹ thích sử dụng chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân cơ bản (chỉ số PCE cơ bản, một trong những thước đo lạm phát được Fed sử dụng)2. Số lượng tối đa các nhà kinh tế Hoa Kỳ ủng hộ việc sử dụng chỉ số này (24% so với 14% người ủng hộ việc sử dụng chỉ số này làm mục tiêu trong số tất cả những người tham gia khảo sát và 11% người ủng hộ ở châu Âu).
Do đó, không giống như các nhà kinh tế châu Âu, những người được hỏi ở Mỹ muốn NHTW của họ nhắm mục tiêu vào lạm phát cơ bản hơn là lạm phát tổng thể.
Mục tiêu lạm phát
Gần 80% số người được hỏi ủng hộ việc NHTW có mục tiêu lạm phát, mặc dù thực tế là hầu hết những người tham gia khảo sát (96%) sống ở các quốc gia mà NHTW thiết lập mục tiêu lạm phát.
Biểu đồ 2: Cần thay đổi mục tiêu lạm phát như thế nào?
Nguồn: Ambrocio, G., A., Ferrero, E. Jokivuolle and K. Ristolainen, "What should the inflation target be? Views from 600 economists", CEPR Discussion Paper 17289 and Bank of Finland Research Discussion Paper 7/2022
Biểu đồ 2 cho thấy sự phân bố những thay đổi ưa thích trong mục tiêu lạm phát. Trong số những người được hỏi từ các quốc gia thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu, hơn một nửa (54%) ủng hộ mức mục tiêu hiện tại của NHTW, khoảng 30% thích mục tiêu cao hơn, trong khi 16% thích mục tiêu thấp hơn. Mức thay đổi ưa thích trung bình (median preferred change) là một điểm phần trăm theo cả hai hướng (cả hướng lên và hướng xuống). Mức tăng (giảm) mục tiêu ưu thích tối đa là 3 (2) điểm phần trăm. Đáng chú ý, 6% số người được hỏi thích mục tiêu giảm 2 điểm phần trăm. Nhóm này tương ứng với những người ủng hộ mục tiêu lạm phát bằng 0 và đến từ các quốc gia có mục tiêu lạm phát hiện tại là 2%.
Biểu đồ 2 cũng nêu bật những khác biệt giữa Khu vực đồng Euro và Mỹ. Tỷ lệ những người thích giữ mục tiêu hiện tại nhỏ hơn đáng kể ở Mỹ (45%) so với ở Khu vực đồng tiền chung châu Âu (gần 56%). Sự khác biệt về tỷ trọng giữa hai khu vực có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 10%; sự khác biệt phát sinh từ những người muốn hạ thấp mục tiêu hiện tại. Tỷ lệ nhóm này gần 21% ở Mỹ trong khi chỉ 9% ở Khu vực đồng Euro (Ambrocio và các cộng sự, 2022).
Nhân tố nào chi phối mục tiêu lạm phát tối ưu?
Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mục tiêu lạm phát tối ưu, nghiên cứu của Ambrocio và các cộng sự (2022) đề nghị các đáp viên “xếp hạng” những nhân tố xác định mức lạm phát mục tiêu, theo tầm quan trọng, gợi ý bảy trong số các nhân tố được đề cập trong nhiều tài liệu nghiên cứu của Friedman, M., (1969) và Stephanie Schmitt-Grohe, Martin Uribe (2010) :
- Mức cân bằng của lãi suất thực;
- Sự cứng nhắc của giá cả và tiền lương;
- Những khó khăn trong đo lường lạm phát;
- ELB đối với lãi suất chính sách;
- Hiệu quả của các biện pháp chính sách tiền tệ phi truyền thống;
- Hiệu quả của chính sách tài khóa;
- Ổn định tài chính.
Ngoài ra, các đáp viên có thể chỉ ra các nhân tố quan trọng khác, theo quan điểm của họ. Sau đó, tính toán điểm xếp hạng trung bình của ba nhóm đáp viên, bao gồm: (1) Những người ủng hộ việc duy trì mục tiêu lạm phát hiện tại; (2) Những người ủng hộ việc hạ thấp mục tiêu lạm phát; và (3) Những người ủng hộ việc nâng cao mục tiêu lạm phát.
Bảng 1: Các nhân tố chi phối mục tiêu lạm phát
Các nhân tố được xếp hạng theo mức độ quan trọng: “Không quan trọng” = 1; “Quan trọng không đáng kể” = 2; “Quan trọng vừa phải” = 3; “Khá quan trọng” = 4; “Quan trọng nhất” = 5.
Nguồn: Ambrocio, G., A., Ferrero, E. Jokivuolle and K. Ristolainen, "What should the inflation target be? Views from 600 economists", CEPR Discussion Paper 17289 and Bank of Finland Research Discussion Paper 7/2022
Bảng 1 tóm tắt kết quả bằng cách sử dụng mã hóa các cấp độ quan trọng trên thang điểm từ 1 (không quan trọng) đến 5 (quan trọng nhất). Tất cả bảy yếu tố được liệt kê đều nhận được điểm trung bình từ 3 đến 4, tức là, nằm trong khoảng từ “quan trọng vừa phải” đến “khá quan trọng”.
Các đáp viên Khu vực đồng Euro (cột EMU) có xu hướng cho điểm về mức độ quan trọng cao hơn một chút so với đáp viên ở Hoa Kỳ. Các đáp viên coi “Ổn định tài chính" là nhân tố quan trọng nhất, chi phối việc xác định mục tiêu lạm phát, cả về mẫu tổng thể cũng như trong các khu vực địa lý khác.
Hai nhân tố tiếp theo xếp theo mức độ quan trọng, đó là “Giới hạn dưới hiệu lực (ELB) đối với lãi suất chính sách” và “Mức cân bằng của lãi suất thực”. Trong Khu vực đồng Euro, các nhân tố “Giới hạn dưới hiệu lực (ELB) đối với lãi suất chính sách” và “Ổn định tài chính" có điểm trung bình đều bằng 3,81, trong khi nhân tố “Hiệu quả của các biện pháp chính sách tiền tệ phi truyền thống” xếp hạng cao hơn một chút so với “Mức cân bằng của lãi suất thực”.
Trong Khu vực đồng Euro và Mỹ, nhân tố “Hiệu quả của các biện pháp chính sách tiền tệ phi truyền thống” đều có điểm trung bình cao hơn nhân tố “Hiệu quả của chính sách tài khóa”.
Hai nhân tố “Sự cứng nhắc của giá cả và tiền lương” và “Những khó khăn trong đo lường lạm phát” có mức độ quan trọng thấp nhất trong mẫu tổng thể cũng như các nhóm khu vực địa lý.
Lãi suất thực cân bằng
Một yếu tố chính làm các nhà nghiên cứu quan tâm trở lại sự lựa chọn mục tiêu lạm phát tối ưu là cuộc thảo luận về sự sụt giảm dài hạn của lãi suất thực cân bằng (r*), có liên quan chặt chẽ đến các biến cố đạt đến giới hạn dưới hiệu lực.
Ngay cả sự gia tăng mạnh mẽ của lạm phát hiện nay cũng không làm cho một số nhà quan sát thay đổi cơ bản quan điểm của họ về xu hướng giảm dài hạn của lãi suất cân bằng.
Tại thời điểm khảo sát, mức lãi suất cân bằng theo đánh giá của các đáp viên khoảng 0,6%. Nhưng chỉ có 25% số người tham gia khảo sát ủng hộ việc tăng mục tiêu lạm phát để đáp ứng giả thuyết giảm ổn định lãi suất cân bằng một điểm phần trăm, số đáp viên không có ý kiến về cách thức hành động trong trường hợp này có cùng tỷ lệ trên, trong khi 34% trong tình huống như vậy, họ sẽ không thay đổi mục tiêu lạm phát, và 16% số người được hỏi khác tin rằng nếu lãi suất cân bằng giảm một điểm phần trăm thì mục tiêu lạm phát cũng nên được hạ xuống. Tất cả số liệu thống kê khảo sát nêu trên là bằng chứng bổ sung cho thấy nhiều chuyên gia dự đoán chi phí đáng kể trong việc thay đổi mục tiêu lạm phát.
Nợ công và lạm phát
Mức nợ công cao ở nhiều khu vực trên thế giới cũng đã khơi dậy một cuộc thảo luận khác - về mối quan hệ tương tác giữa chính sách tiền tệ và tài khóa. Các biện pháp chính sách được thực hiện để đối phó với cuộc khủng hoảng đại dịch Covid-19 đã khiến mức nợ tăng thêm và làm trầm trọng thêm vấn đề này. Pedro Teles từ Ngân hàng Bồ Đào Nha và Orest Tristani từ ECB đã chỉ ra, việc tài trợ cho các cú sốc tài khóa lớn (tăng chi tiêu chính phủ) có thể có tác động đến mức lạm phát tối ưu - được dự tính sẽ tăng dần dần nhưng dài hạn.
Dựa trên những phát hiện này, nghiên cứu của Ambrocio và các cộng sự (2022) khảo sát liệu ưu tiên nâng mục tiêu lạm phát của những đáp viên có liên quan đến mức tỷ lệ nợ công trên GDP ở quốc gia nơi họ cư trú hay không và nhận thấy rằng thực tế là đúng như vậy. Một giải thích cho điều này là mức nợ cao hơn có thể yêu cầu mục tiêu lạm phát cao hơn để giảm chi phí nợ thực.
Mặc dù lạm phát cao gần đây có thể bỏ qua cuộc thảo luận về việc thay đổi mục tiêu lạm phát, nhưng kết quả nghiên cứu của Ambrocio và các cộng sự (2022) sẽ hữu ích trong tư duy về những đánh đổi liên quan đến sự thay đổi như vậy trong tương lai.
1 ELB hoặc giới hạn dưới bằng 0 (zero lower bound, ZLB) là mức lãi suất cực kỳ thấp trong nền kinh tế, khi đạt đến mức đó, hiệu quả của các công cụ chính sách tiền tệ truyền thống sẽ yếu đi và việc cắt giảm lãi suất tiếp theo thậm chí có thể gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. 2 Chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân cơ bản (core Personal Consumption Expenditure Price Index) đo lường sự thay đổi trong giá cả hàng hóa và dịch vụ được người tiêu dùng thu mua với mục đích tiêu dùng ngoại trừ thực phẩm và năng lượng. Tài liệu tham khảo:
1. Ambrocio, G., A., Ferrero, E. Jokivuolle and K. Ristolainen,"What should the inflation target be? Views from 600 economists",, CEPR Discussion Paper 17289 and Bank of Finland Research Discussion Paper 7/2022. 2. Ball, L, "The case for 4% inflation", Central Bank Review 13, 2013. 3. Blanchard, O, G Dell'Ariccia and P Mauro, “Rethinking macroeconomic policy”, Staff Position Note 10/03, IMF, 2010. 4. Friedman, M., “The Optimum Quality of Money”. Mcmillan, 1969. 5. Krugman, P, "Inflation targets reconsidered", Unpublished, 2014. 6. Pedro Teles, Oreste Tristani, “The Monetary Financing of Large Fiscal Shock”, ECB, CEPR, September 2021. 7. Stephanie Schmitt-Grohe, Martin Uribe, “The Optimal Rate of Inflation”, NBER Working Papers, June 2010.
Trong bối cảnh cả thế giới tập trung vào chống lạm phát (hệ quả của việc bơm tiền kích thích kinh tế trong điều kiện các hoạt động kinh tế không hoặc ít hoạt động như bình thường), phần lớn các Ngân hàng Trung ương trên thế giới đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt...
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Ông Nguyễn Hải Nam, đại biểu Quốc hội chuyên trách, ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội cho rằng, chuyển dịch mô hình tăng trưởng sang dựa nhiều hơn vào công nghệ cao là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Cùng với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nền kinh tế cần nguồn vốn lớn để phát triển. Bên cạnh tín dụng ngân hàng và thị trường chứng khoán, tài sản số, tài sản mã hóa có thể trở thành một kênh dẫn vốn mới, giàu tiềm năng.
Theo các chuyên gia, tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào vốn và lao động, mà cần những động lực mới từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Được kỳ vọng là cơ chế mở đường cho các sản phẩm, dịch vụ tài chính mới, sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát), là một trong những “mảnh ghép” quan trọng trong quá trình xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN).
Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng hơn là dòng vốn đó mang theo công nghệ gì, tạo ra năng lực thế nào và giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn ra sao để thực hiện những bước chuyển mà Nghị quyết 10-NQ/TW đặt ra.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc bổ sung lý giải do AI tạo ra cho chững đề xuất có thể kìm hãm sự phản biện xây dựng của con người, đồng thời khiến người đánh giá bác bỏ những ý tưởng có tiềm năng cao.
Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Theo các chuyên gia, tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào vốn và lao động, mà cần những động lực mới từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Được kỳ vọng là cơ chế mở đường cho các sản phẩm, dịch vụ tài chính mới, sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát), là một trong những “mảnh ghép” quan trọng trong quá trình xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN).
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI), ngân hàng mở, tài sản số và các phương thức thanh toán mới đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động tài chính - ngân hàng. Với gần 80% giao dịch tài chính được thực hiện qua nền tảng số, Việt Nam đang đứng trước cơ hội tận dụng công nghệ tài chính để nâng cao hiệu quả hệ thống, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và tạo thêm động lực cho nền kinh tế số.
Fed đã trở nên ‘kín tiếng’ hơn kể từ thời của Chủ tịch Kevin Warsh. Tuy nhiên điều đó khiến các nhà kinh tế lo ngại, thị trường không nhận được đủ thông tin để hiểu cách Fed sẽ phản ứng trước những thay đổi của điều kiện kinh tế. Hệ quả là các nhà đầu tư có xu hướng đòi hỏi mức lợi suất cao hơn cho việc nắm giữ tài sản để ứng phó với những bất định của thị trường.
Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng hơn là dòng vốn đó mang theo công nghệ gì, tạo ra năng lực thế nào và giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn ra sao để thực hiện những bước chuyển mà Nghị quyết 10-NQ/TW đặt ra.
Ông Nguyễn Hải Nam, đại biểu Quốc hội chuyên trách, ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội cho rằng, chuyển dịch mô hình tăng trưởng sang dựa nhiều hơn vào công nghệ cao là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Cùng với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nền kinh tế cần nguồn vốn lớn để phát triển. Bên cạnh tín dụng ngân hàng và thị trường chứng khoán, tài sản số, tài sản mã hóa có thể trở thành một kênh dẫn vốn mới, giàu tiềm năng.
Chiều 24/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp với 480/481 ĐBQH có mặt tán thành, đạt tỷ lệ 99,79%. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 24/8/2026 và áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc bổ sung lý giải do AI tạo ra cho chững đề xuất có thể kìm hãm sự phản biện xây dựng của con người, đồng thời khiến người đánh giá bác bỏ những ý tưởng có tiềm năng cao.
Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ giá tính chéo của đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực từ ngày 20-26/8.
Bức tranh kinh tế dữ liệu tại Việt Nam đã dần thành hình, đồng thời bộc lộ những điểm nghẽn cần được khơi thông để bước sang giai đoạn phát triển thực chất hơn.
Sau hơn 35 năm thu hút FDI, khu vực này đã góp phần đưa Việt Nam hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng liên kết với doanh nghiệp trong nước và giá trị gia tăng tạo ra vẫn chưa tương xứng. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển từ “thu hút” sang “lựa chọn” FDI, ưu tiên các dự án công nghệ cao, tạo liên kết và gia tăng giá trị do người Việt Nam tạo ra.
Trong bối cảnh đầu tư công được kỳ vọng là một động lực tăng trưởng quan trọng, mỗi đồng vốn chậm ra công trường không chỉ làm chậm một dự án, mà còn làm giảm hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự thảo Luật Phát triển đô thị. Việc giải mã hành lang pháp lý và định vị rõ mô hình vận hành của Trung tâm tài chính quốc tế được đưa ra thảo luận sự nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực tăng trưởng cho các đô thị tiềm năng.
Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành.
Sau 5 năm triển khai mạnh mẽ chuyển đổi số, ngành Ngân hàng Việt Nam đã đi một chặng đường dài, từ số hóa giao dịch, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số đến kiến tạo các hệ sinh thái tài chính ngày càng thông minh, kết nối và lấy khách hàng làm trung tâm. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược và trí tuệ nhân tạo dần đi vào trung tâm hoạt động ngân hàng, cuộc cạnh tranh không còn nằm ở việc ngân hàng nào số hóa nhanh hơn, mà ở khả năng chuyển hóa dữ liệu thành thức.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045 (Chiến lược).
Áp lực cạnh tranh từ ngân hàng và các mô hình tài chính thay thế đang buộc các công ty tài chính tiêu dùng thay đổi cách tiếp cận thị trường. Diễn biến này khiến dữ liệu, công nghệ và mạng lưới đối tác trở thành nền tảng mới cho sức cạnh tranh, năng lực quản trị rủi ro và phát triển các sản phẩm tín dụng.
Kinh tế số đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho Việt Nam. Nhưng để chuyển tiềm năng thành giá trị thực, cần tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn về nguồn lực, dữ liệu, hạ tầng và thể chế. Trong đó, trí tuệ nhân tạo (AI) đang nổi lên như một năng lực sản xuất mới, giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, đổi mới mô hình kinh doanh, tạo sản phẩm mới và mở rộng thị trường.
Một kế hoạch vững chắc và các quy trình nền tảng là yếu tố thiết yếu để tránh tình trạng tác nhân AI hoạt động mất kiểm soát, nợ kỹ thuật AI (AI debt) và những tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh. Sau đây là cách triển khai tác nhân AI đúng đắn.