Vốn đắt, tiền khan, doanh nghiệp xoay xở ra sao?

Hà Tâm| 25/05/2026 08:51

Sau một tháng giảm theo “hiệu triệu” của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất huy động tại một số ngân hàng lại rục rịch tăng trở lại, đặc biệt là lãi suất thỏa thuận. Dự báo mặt bằng lãi suất chung sẽ tiếp tục neo ở mức cao. Trong bối cảnh này, xoay xở giữ nhịp dòng tiền là thách thức lớn nhất của doanh nghiệp.

at7.jpg
Lãi suất cho vay chưa giảm khiến doanh nghiệp khó tiếp cận dòng vốn. Ảnh: Ngọc Thắng

Lãi suất thỏa thuận rục rịch tăng trở lại

Mặc dù lãi suất huy động đại trà tiếp tục được các ngân hàng giữ ổn định sau đợt hạ lãi suất hồi tháng 4/2026, song lãi suất thỏa thuận đang rục rịch tăng.

Ngân hàng số VikkiBank vừa công bố lãi suất ưu đãi áp dụng cho khách hàng gửi tiết kiệm online từ 200 triệu đồng trở lên. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 6 tháng là 8,9%/năm, lãi suất kỳ hạn 12-13 tháng là 9%/năm. Riêng trong ngày vàng (14/5 và 29/5), lãi suất ưu đãi cho hai kỳ hạn này lần lượt là 9 và 9,1%/năm. Các ngày khác trong tuần được áp dụng theo mức lãi suất được áp dụng từ 10/4/2026: 8,7%/năm kỳ hạn 6 tháng và 8,8% kỳ hạn 12 - 13 tháng. Trước khi giảm lãi suất vào ngày 10/4 theo cam kết đồng thuận với chủ trương của NHNN, lãi suất hai kỳ hạn này tại Vikki là 9,2% và 9,3%/năm.

Sacombank cũng tăng mạnh lãi suất huy động, đặc biệt với các khoản tiền gửi lớn, kỳ hạn dài. Đối với các khoản tiền gửi dưới 500 triệu đồng, lãi suất các kỳ hạn tăng 0,2 - 0,6%/năm. Riêng với các khoản tiền gửi từ 500 triệu đồng trở lên, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6-11 tháng và 24-36 tháng tăng thêm 0,6%/năm; trong khi kỳ hạn 12-18 tháng tăng tới 1%/năm. Sau điều chỉnh, mức lãi suất cao nhất tại Sacombank chính thức chạm mốc 8%/năm, áp dụng cho tiền gửi trực tuyến từ 1 tỷ đồng trở lên với kỳ hạn 24-36 tháng.

VPBank tiếp tục giảm lãi suất huy động đại trà, song lại tăng lãi suất thỏa thuận (áp dụng với các khoản tiền gửi lớn). Theo đó, lãi suất tiết kiệm online với các khoản tiền gửi lớn của ngân hàng này tăng 0,1-0,2%/năm. Lãi suất với chứng chỉ tiền gửi cũng được ngân hàng này điều chỉnh tăng mạnh, đặc biệt là các kỳ hạn dài.

Mục tiêu xuyên suốt của NHNN thời gian tới là phải tiếp tục kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng trong phạm vi cho phép của chính sách tiền tệ.

Động lực để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số cần đến từ đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ và nâng cao năng suất lao động. Trong đó, chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò mở rộng và dẫn dắt, còn chính sách tiền tệ sẽ đóng vai trò hỗ trợ, bổ trợ để neo giữ kỳ vọng về kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

- Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN)

Trước tình trạng lãi suất huy động tăng mạnh từ quý IV/2025 đến nay, ngày 9/4, Thống đốc NHNN cùng lãnh đạo các đơn vị đã làm việc trực tiếp với 46 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam để trao đổi về giải pháp giảm lãi suất. Mặt bằng lãi suất đã hạ nhiệt sau đó. Theo NHNN, hiện lãi suất bình quân của các khoản huy động mới phát sinh ở mức khoảng 5,7%, giảm khoảng 0,26% so với cuối tháng 3/2026.

Việc lãi suất rục rịch tăng trở lại vào tháng 5/2026 không gây ngạc nhiên cho giới phân tích, bởi câu chuyện thanh khoản của hệ thống vẫn chưa được xử lý dứt điểm.

TS. Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế cho rằng, chênh lệch huy động vốn và tăng trưởng tín dụng ngày càng cao. Tại nhiều ngân hàng, quy mô tín dụng đã vượt huy động tiền gửi. Tỷ lệ huy động/cho vay (LDR) của toàn hệ thống đã lên tới 112%.

Ngoài ra, việc NHNN loại tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc nhà nước vào công thức tính LDR từ đầu năm nay và việc các hộ kinh doanh nhỏ rút tiền mặt khá nhiều do chưa hiểu thấu đáo về chính sách thuế càng khiến tình trạng này trầm trọng hơn.

“Một vấn đề đang tồn tại nữa là các ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn (gần 90%) song lại chủ yếu cho vay trung, dài hạn, đặc biệt là bất động sản. Một số ngân hàng cho vay bất động sản lên tới hơn 50% tổng dư nợ. Điều này gây áp lực lên thanh khoản và lãi suất của chính ngân hàng đó cũng như toàn hệ thống”, ông Võ Trí Thành nhận định.

Ngoài các nguyên nhân trên, theo ông Phan Lê Thành Long, CEO AFA, lạm phát tăng cũng là nguyên nhân khiến lãi suất khó giảm, mà tiếp tuc neo ở mức cao. Áp lực lạm phát tăng không chỉ đến từ trong nước, mà còn từ thị trường thế giới.

Trong nước, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2026 tăng 0,84% so với tháng trước và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước. Tại Mỹ, CPI tháng 4 đã tăng 3,8% so với cùng kỳ năm ngoái - là mức tăng mạnh nhất trong vòng 3 năm qua.

Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) cũng khẳng định, hiện dư địa chính sách tiền tệ không còn nhiều. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã điều chỉnh dự báo lạm phát toàn cầu tăng thêm 0,6 điểm phần trăm, lên khoảng 4,4%, cao hơn lạm phát thực tế năm 2025 là 4,1%. Nhiều ngân hàng trung ương cũng phải điều chỉnh lại chính sách. Điều này sẽ tác động đến dòng vốn quốc tế, gây sức ép lên tỷ giá trong nước. Việc vừa phải phục vụ tăng trưởng cao, vừa phải kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô (trong đó có lãi suất, tỷ giá) là thách thức rất lớn với chính sách tiền tệ.

Nỗi lo lãi suất không lớn bằng việc khó tiếp cận vốn

Báo cáo tài chính quý I/2026 cho thấy, gần một nửa ngân hàng trên thị trường sụt giảm vốn huy động. Tại mùa ĐHĐCĐ năm nay, lãnh đạo nhiều nhà băng cũng phải thừa nhận “thị trường chung đang thiếu tiền”.

Năm nay, NHNN đặt mục tiêu tín dụng tăng 15%, tương đương bơm thêm 2,8 triệu tỷ đồng ra nền kinh tế. Năm ngoái, tín dụng toàn hệ thống tăng hơn 19%. Cung tiền tăng mạnh thời gian qua, theo TS. Võ Trí Thành, là một trong những nguyên nhân đẩy lạm phát lõi ở Việt Nam tăng nhanh.

Để đối phó với tình trạng căng thanh khoản như hiện nay, NHNN chủ trương điều tiết dòng vốn chảy vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng mới của đất nước.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp hiện nay, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nỗi lo lãi suất không lớn bằng nỗi lo khó tiếp cận vốn.

Ông Trần Văn Hiển, Trưởng ban Ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại (Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - VINASME) cho rằng, hiện nay, các ngân hàng vẫn chủ yếu cho vay dựa vào tài sản thế chấp nên doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận vốn. Ông Hiển đề xuất các ngân hàng nên cho vay thông qua dòng tiền thực tế, thông qua chuỗi cung ứng và dữ liệu tài chính số.

Ngoài ra, theo ông Hiển, Chính phủ cần thúc đẩy các công cụ tài chính cung ứng vốn cho doanh nghiệp khác ngoài tín dụng ngân hàng, đặc biệt là Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiện rất ít doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi từ quỹ này.

PGS-TS. Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng cho rằng, trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp, bài toán hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ nằm ở việc giảm lãi suất, mà còn ở việc nâng cao năng lực hấp thụ vốn, chất lượng quản trị và hiệu quả phân bổ dòng vốn trong nền kinh tế.

Các chuyên gia cũng kiến nghị, để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nền kinh tế cần tập trung vào các động lực khác như: cải cách thể chế; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo…, thay vì dựa quá nhiều vào tín dụng.

Theo phân tích của VCBS, thời gian qua, NHNN đã có nhiều giải pháp hỗ trợ thanh khoản thị trường thông qua kênh OMO (nghiệp vụ thị trường mở). Tuy vậy, sự hỗ trợ này chỉ giải quyết được ngắn hạn, do vấn đề cốt lõi vẫn nằm ở cấu trúc nguồn vốn của một số ngân hàng là mất cân đối cơ cấu kỳ hạn.

Dự kiến, quý II/2026, thanh khoản hệ thống tiếp tục chịu áp lực trong bối cảnh nhu cầu giải ngân tăng mạnh, tiền chảy vào ngân hàng chậm, khối lượng OMO đáo hạn trong tháng 4 vẫn ở mức lớn.

Các chuyên gia phân tích kỳ vọng, Thông tư 08/2026/TT-NHNN sửa đổi một số nội dung tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN có hiệu lực từ 15/5/2026 cho phép đưa 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức tính LDR, giúp nhóm ngân hàng big 4 bớt sức ép về thanh khoản, vừa hạ nhiệt lãi suất toàn thị trường, vừa có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng.

Ngoài ra, cả nước đang có hơn 3.000 dự án tồn đọng với tổng mức đầu tư hơn 3,3 triệu tỷ đồng. Chỉ cần tháo gỡ 20% số dự án tồn đọng mỗi năm, nền kinh tế sẽ có thêm 660.000 tỷ đồng được đưa vào nền kinh tế.

Theo TS. Võ Trí Thành, hiện ít có yếu tố hỗ trợ lãi suất giảm. Điều quan trọng nhất mà NHNN có thể làm được trong bối cảnh hiện nay là cân đối các yếu tố ở mức độ có thể chấp nhận được. Thực tế, thời gian qua, các công cụ điều hành đã được NHNN sử dụng khá trôi chảy (bơm vốn qua thị trường mở, cho phép hoán đổi ngoại tệ…). Dù vậy, việc hỗ trợ tăng trưởng thời gian tới sẽ phải “trông cậy” nhiều hơn vào chính sách tài khóa.

Bài liên quan
  • Hạ lãi suất: Vì sao Việt Nam chọn đi ngược với xu hướng thế giới?
    (KTSG Online) - Trong khi nhiều ngân hàng trung ương thế giới có xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ, Việt Nam lại quyết định hạ lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế. Động thái này dựa trên nhận định áp lực tăng giá trong nước chủ yếu đến từ cú sốc giá năng lượng kéo theo lạm phát do nhập khẩu, cộng thêm sức ép từ tỷ giá và lạm phát chi phí đẩy do doanh nghiệp thấm đòn bởi giá nhiên liệu và vận tải leo thang.

(0) Bình luận
Nổi bật Tin tức IDS
Đừng bỏ lỡ
Vốn đắt, tiền khan, doanh nghiệp xoay xở ra sao?
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO