Trong bối cảnh kinh tế châu Á chậm lại do bất ổn toàn cầu, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng vĩ mô với tăng trưởng GDP 6 tháng đạt 8,18%. Dòng vốn FDI và khối sản xuất công nghệ đang trở thành bệ đỡ vững chắc nâng đỡ triển vọng năm 2026.
![]() |
| Sản xuất công nghệ cao và dòng vốn FDI tiếp tục là bệ phóng chủ lực cho đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026. |
Lội ngược dòng giữa “cơn gió ngược” khu vực
Mới đây, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) chính thức công bố hạ dự báo tăng trưởng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển xuống mức 4,9%. Nguyên nhân chính đến từ những gián đoạn kéo dài trên thị trường năng lượng toàn cầu do xung đột tại Trung Đông, qua đó đẩy chi phí sản xuất và lạm phát gia tăng. Hàng loạt nền kinh tế lớn từ Ấn Độ cho đến các quốc gia Đông Nam Á và Thái Bình Dương đều bị điều chỉnh giảm dự báo do tiêu dùng nội địa và du lịch chậm lại.
Trong bức tranh chung trầm lắng đó, nền kinh tế Việt Nam đang chứng minh một xung lực hoàn toàn khác biệt. Số liệu thống kê chính thức vừa ghi nhận tăng trưởng GDP quý II/2026 đạt con số ấn tượng 8,39%, qua đó kéo tăng trưởng 6 tháng đầu năm lên 8,18% là mức cao nhất kể từ năm 2011 đến nay. Phản ứng trước kết quả này, các tổ chức quốc tế đã đồng loạt nâng dự báo cho Việt Nam. Khảo sát của Bloomberg chỉ ra dự báo trung vị về tăng trưởng GDP cả năm của Việt Nam đã được nâng lên 7,3%. Đặc biệt hơn, Ngân hàng United Overseas Bank (UOB) đã có bước điều chỉnh mạnh mẽ khi nâng dự báo tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam lên tới 8,5%, thay cho mức 7% đưa ra trước đó.
Nhìn sâu vào cấu trúc tăng trưởng, động lực lớn nhất của nền kinh tế tiếp tục gọi tên khu vực công nghiệp và xây dựng với mức tăng 9,81% so với cùng kỳ trong nửa đầu năm. Sự bứt phá này không đến ngẫu nhiên mà gắn liền chặt chẽ với làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng và sự bùng nổ của nhu cầu trí tuệ nhân tạo (AI) trên toàn cầu. Việt Nam đang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị này khi mảng sản xuất linh kiện, thiết bị điện tử và hàng hóa vốn liên tục mở rộng.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào các ngành công nghệ chế tạo chính là chất xúc tác mạnh mẽ. Các nhà máy vận hành ở tốc độ cao hơn, đáp ứng các đơn hàng quốc tế lớn, giúp Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, tập trung thúc đẩy động lực truyền thống lẫn phát triển các động lực mới như Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn đã nhận định.
![]() |
| Bất chấp sự chững lại của khu vực, xuất khẩu và công nghiệp chế tạo vẫn nâng đỡ vững chắc triển vọng GDP nước ta |
Nhận diện những “hòn đá tảng” cản lối
Dù triển vọng tràn đầy lạc quan, một nhà điều hành kinh tế tỉnh táo không thể bỏ qua những áp lực nội tại và rủi ro từ bên ngoài. Thách thức đầu tiên nằm ở cán cân thương mại khi Việt Nam chuyển từ xuất siêu 7,9 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang nhập siêu khoảng 15 đến 16,65 tỷ USD trong 6 tháng qua. Theo phân tích của UOB, đây là hiện tượng nhập siêu do giá năng lượng thế giới tăng cao đẩy chi phí nhập khẩu nhiên liệu lên mạnh, chứ không xuất phát từ việc suy yếu đơn hàng xuất khẩu. Chỉ riêng kim ngạch nhập khẩu dầu mỏ trong 5 tháng đã đạt 4,8 tỷ USD, bằng 70% cả năm 2025. Tuy nhiên, áp lực này được kỳ vọng sẽ hạ nhiệt khi eo biển Hormuz mở lại, giúp cán cân thương mại thặng dư trở lại vào cuối năm.
Bên cạnh đó, áp lực lạm phát đang gia tăng rõ rệt khi nền kinh tế vận hành ở tốc độ cao. Lạm phát bình quân 6 tháng đạt 4,38%, tiến sát ngưỡng mục tiêu điều hành 4,5%. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần theo dõi sát sao tính chu kỳ của thương mại toàn cầu, đặc biệt là các sắc thuế mới theo Điều khoản 301 của Mỹ dự kiến có hiệu lực từ cuối tháng 7, hoàn toàn có thể tác động trực tiếp đến đà tăng trưởng của các nền kinh tế định hướng xuất khẩu.
Hành động quyết liệt cho mục tiêu tăng trưởng hai con số
Dù các chỉ số vĩ mô tích cực, mức dự báo 8,5% của UOB vẫn thấp hơn mục tiêu khát vọng 10% của Chính phủ. Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn thẳng thắn nhìn nhận: “Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng trưởng 6 tháng cuối năm của cả nước cần đạt 11,7%”. Để giải bài toán tăng tốc bứt phá, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết 168/NQ-CP và 169/NQ-CP, đồng thời bám sát Kết luận số 18-KL/TW nhằm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn thể chế và quy định kinh doanh.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện tại cần giải phóng là vốn đầu tư công. Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh, nếu tỷ lệ giải ngân 6 tháng đạt 50% thay vì mức gần 35% hiện nay, đầu tư công đã có thể đóng góp thêm 0,4 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế.
Ở góc độ tiền tệ, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà khẳng định sẽ tiếp tục ưu tiên dòng tín dụng cho sản xuất (tăng trưởng tín dụng tính tới cuối tháng 6 đã đạt 7,41% so với mục tiêu cả năm là 15%). Với dư địa linh hoạt từ chính sách tiền tệ và tài khóa mở rộng có trọng điểm, nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn có cơ sở vững chắc để duy trì sức chống chịu và bứt tốc, hướng đến hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 đầy thử thách.