Thông tư số 06 góp phần giảm “tín dụng đen” và hạ lãi suất cho vay
Minh Hoàng (NHNN)|20/09/2023 06:58
Ngay từ khi ban hành, Thông tư số 06 đã phát đi tín hiệu và tác động tích cực đến thị trường tiền tệ, trong đó có hai điểm nổi bật là góp phần tích cực giảm “tín dụng đen” và hạ lãi suất cho vay nhằm tiếp tục bảo vệ quyền lợi của người vay, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; nâng cao yêu cầu minh bạch hóa, bảo đảm an toàn cho hoạt động cho vay.
Ngày 28/6/2023, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 06/2023/TT-NHNN (Thông tư số 06) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN (Thông tư số 39) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây viết tắt là TCTD) đối với khách hàng. Thông tư số 06 có hiệu lực từ ngày 01/9/2023, có nhiều quy định tác động tích cực đến thị trường tiền tệ như: Bước đầu quy định về cho vay bằng phương thức điện tử, bổ sung quy định về cho vay để trả nợ ngân hàng đối với các khoản vay tiêu dùng… và cụ thể hóa nhiều nội dung quan trọng nhằm khắc phục những khó khăn, bất cập của các TCTD trong thực tiễn triển khai thực hiện Thông tư số 39 thời gian qua.
Ngay từ khi ban hành, Thông tư số 06 đã phát đi tín hiệu và tác động tích cực đến thị trường tiền tệ, trong đó có hai điểm nổi bật là góp phần tích cực giảm “tín dụng đen” và hạ lãi suất cho vay nhằm tiếp tục bảo vệ quyền lợi của người vay, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; nâng cao yêu cầu minh bạch hóa, bảo đảm an toàn cho hoạt động cho vay.
Bổ sung quy định về cho vay bằng phương thức điện tử, “tín dụng đen” sẽ giảm trong thời gian tới
“Tín dụng đen” là cụm từ được dùng để chỉ các hoạt động cho vay dân sự giữa các cá nhân, tổ chức không qua hệ thống tín dụng chính thức với đặc trưng cơ bản nhất là mức lãi suất cao, bị pháp luật nghiêm cấm và để lại nhiều hệ quả xấu cho cá nhân và toàn xã hội. Theo các nghiên cứu, có nhiều nguyên nhân dẫn đến “tín dụng đen”, xong các cơ quan quản lí nhà nước, chuyên gia đều thống nhất có hai nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng “tín dụng đen”, đó là: (i) Khách hàng có nhu cầu vốn hợp pháp nhưng còn ngại tiếp xúc kênh tín dụng chính thống do thủ tục vay vốn phức tạp, thời gian xử lí lâu nên tìm đến “tín dụng đen” vì có thủ tục cho vay đơn giản, thời gian xử lí cho vay rất nhanh; (ii) Nhu cầu vốn cho các hoạt động phi pháp, bị pháp luật nghiêm cấm như: Buôn lậu, gian lận thương mại, rửa tiền, kinh doanh hàng quốc cấm, cho vay nặng lãi. Thông tư số 06 được ban hành, đã tạo nên bước quan trọng khi cắt đi một nguyên nhân căn bản của “tín dụng đen”. Theo khảo sát, báo cáo của các cơ quan quản lí nhà nước, hầu hết các khoản “tín dụng đen” đều có giá trị ban đầu rất thấp chỉ từ vài triệu đến vài chục triệu đồng (hầu hết là dưới 100 triệu đồng).
Thông tư số 06 bổ sung nội dung “hoạt động cho vay bằng phương thức điện tử”, đã tạo nên hành lang pháp lí để TCTD tiếp nhận, thẩm định, quyết định cho vay hoàn toàn bằng phương thức điện tử. Theo đó, TCTD sẽ được phép xem xét cấp tín dụng với nhu cầu vốn không quá 100 triệu đồng 24/7, quy trình hoàn toàn tự động, nhanh chóng, thuận tiện cho khách hàng.
Thông tư số 06 bổ sung nội dung “hoạt động cho vay bằng phương thức điện tử”, đã tạo nên hành lang pháp lí để TCTD tiếp nhận, thẩm định, quyết định cho vay hoàn toàn bằng phương thức điện tử. (Nguồn Internet)
Đến đầu tháng 9/2023, nhiều TCTD đã chính thức triển khai việc cấp tín dụng hoàn toàn trên môi trường điện tử như: Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Bưu điện Liên Việt (LPBank), NHTMCP Quân đội (MB), NHTMCP Tiên Phong (TPBank), NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)… Theo đó, các sản phẩm tín dụng mới này đều được tự động hóa hoàn toàn trên môi trường số, khách hàng có thể gửi đề nghị vay vốn đến TCTD ở mọi nơi, mọi thời điểm. TCTD có thể ra quyết định cho vay chỉ sau vài phút đến vài giờ kể từ thời điểm khách hàng gửi đề nghị cho vay. Bên cạnh đó, hầu hết các TCTD đã ứng dụng công nghệ số để tự động hóa một hoặc một số công việc trong hoạt động cấp tín dụng, hoạt động thẩm định… Do đó, quyết định cấp tín dụng đã rút ngắn đáng kể hoạt động quyết định cấp tín dụng. Theo khảo sát, thời gian TCTD quyết định cho vay chỉ từ 01 - 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của khách hàng. Nhiều nhu cầu vốn được thẩm định, quyết định, giải ngân ngay trong ngày khách hàng gửi đề nghị vay vốn (không bao gồm thời gian giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan/đơn vị có thẩm quyền như: Văn phòng công chứng, văn phòng đăng kí đất đai, các cơ quan giao dịch bảo đảm…).
Ngoài ra, trong thời gian gần đây, nhiều TCTD đã đẩy mạnh hoạt động cấp tín dụng tiêu dùng theo hình thức “thấu chi tài khoản - Overdraft”, là hình thức mà TCTD cho phép khách hàng sử dụng tiền ngay cả khi không có tiền hoặc sử dụng vượt quá số tiền hiện đang có trong tài khoản. TCTD sẽ chỉ tính lãi suất vay dựa trên số tiền thực tế mà khách hàng đã chi tiêu vượt mức. Đơn cử như: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) xem xét cho vay thấu chi không bảo đảm tiền vay đến 800 triệu đồng/người trong thời gian tối đa 12 tháng với khách hàng cá nhân có thu nhập từ tiền lương; NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) triển khai cho vay thấu chi tối đa 500 triệu đồng/người cho khách hàng là cán bộ, công nhân viên các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước; NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cho vay thấu chi không có tài sản đảm bảo tối đa 150 triệu đồng và không cần chứng minh thu nhập… Hình thức cho vay này được phát triển mạnh mẽ hơn do các TCTD đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số hỗ trợ trong hoạt động cho vay trực tuyến không cần tài sản bảo đảm và cho vay thấu chi; các khâu xác thực, định danh, chấm điểm và sàng lọc khách hàng đã, đang và sẽ tiếp tục được tiến hành rất nhanh chóng. Việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng được nhanh chóng, thuận tiện hơn, khách hàng có thể sử dụng sản phẩm cho vay thấu chi như một khoản dự phòng cho các nhu cầu vốn bất ngờ, cấp bách.
Bổ sung quy định khách hàng được vay vốn để trả nợ tạo cạnh tranh, góp phần giảm lãi suất cho vay
Khoản 2 Điều 1 Thông tư số 06 đã sửa đổi Điều 8 của Thông tư số 39 về những nhu cầu vốn không được cho vay. Theo Thông tư số 06, khách hàng có thể vay tiền từ TCTD này để trả nợ các khoản vay tiêu dùng tại các TCTD khác (đây là nhu cầu vốn không được cho vay theo quy định tại Thông tư số 39). Theo các chuyên gia kinh tế và khách hàng vay, quy định này sẽ làm cho mặt bằng lãi suất cho vay có diễn biến giảm trong thời gian tới khi mà khách hàng có thể tìm đến những TCTD với lãi suất ưu đãi, chính sách sản phẩm phù hợp để vay vốn trả nợ các khoản vay hiện hữu.
Qua khảo sát thị trường, trong tháng 7 và tháng 8/2023 (sau khi Thông tư số 06 được ban hành ngày 28/6/2023), nhiều TCTD đã có động thái điều chỉnh giảm lãi suất cho vay với mức giảm từ 0,5% - 3%/năm so với trước khi có Thông tư số 06, đặc biệt là áp dụng đối với cả các khoản vay hiện hữu thay vì chỉ áp dụng đối với khoản vay mới như trước đây. Cụ thể: NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) giảm tới 0,5%/năm lãi suất cho toàn bộ khoản vay của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp; Agribank triển khai chương trình tín dụng lên đến 25.000 tỉ đồng với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn đến 1%/năm đối với khách hàng xuất, nhập khẩu; NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) triển khai gói ưu đãi lãi suất đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) lên đến 15.000 tỉ đồng, lãi suất cho vay với lãi suất ưu đãi mới từ 6,8%/năm…
Những ngày đầu tháng 9/2023 (thời điểm bắt đầu có hiệu lực của Thông tư số 06), nhiều TCTD đã có các sản phẩm mới về cho vay để trả nợ TCTD khác với mức lãi suất ưu đãi đã tạo nên cuộc cạnh tranh về lãi suất cho vay và được kì vọng mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng, có thể kể đến như: NHTMCPĐầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) triển khai gói tín dụng cho khách hàng vay để trả nợ trước hạn tại các ngân hàng khác với lãi suất vay chỉ từ 6%/năm (khoản vay ngắn hạn) và 6,8%/năm (khoản vay trung, dài hạn); Vietcombank cho khách hàng cá nhân vay vốn để trả nợ trước hạn khoản vay phục vụ nhu cầu đời sống tại ngân hàng khác với lãi suất ưu đãi từ 6,9%/năm trong 06 tháng đầu hoặc 7,5%/năm trong 12 tháng đầu hoặc 8,0%/năm trong 24 tháng đầu; Techcombank cho khách hàng chuyển khoản vay bất động sản từ ngân hàng khác sang Techcombank với lãi suất vay từ 7,3%/năm… Tất cả các sản phẩm này đều có mức lãi suất thấp hơn từ 0,5 - 3%/năm so với đầu năm 2023 của chính các TCTD này.
Có thể khẳng định rằng, với việc khách hàng cá nhân được vay vốn từ TCTD này để trả nợ TCTD khác, các TCTD đã và sẽ có thêm các sản phẩm mới để phục vụ nhu cầu của khách hàng. Cùng với đó, lãi suất cho vay sẽ tiếp tục giảm tới mức hợp lí trong thời gian tới và được cả khách hàng cũng như TCTD chấp nhận. Theo thống kê của NHNN mới đây, tín dụng năm 2023 chỉ thực sự tăng trưởng trong tháng 7 và tháng 8. Thông tư số 06 đã và sẽ tiếp tục đẩy mạnh tín dụng. Tín dụng tăng trưởng tốt sẽ thúc đẩy nền kinh tế phục hồi và phát triển, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới.
Một số khuyến nghị chính sách
Để hoạt động tín dụng ngân hàng ngày càng mang lại lợi ích cho khách hàng, thúc đẩy kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển, ngăn chặn, hạn chế và chấm dứt hoạt động “tín dụng đen”, bên cạnh các kết quả đã đạt được nêu trên, cần có thêm nhiều chính sách từ các cơ quan quản lí nhà nước. Một số khuyến nghị chính sách được đề xuất như sau:
Một là, giảm thiểu hơn nữa hoạt động “tín dụng đen”. Trước tiên, cần đồng bộ các giải pháp để toàn bộ nhu cầu vay vốn hợp pháp của người dân được tiếp cận kênh tín dụng chính thức một cách dễ dàng. Các TCTD cần được khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (thuế, bảo hiểm xã hội, quyền sử dụng đất… của người dân, doanh nghiệp); từ đó, có các mô hình, giải pháp chấm điểm tín dụng và mở rộng hơn nữa việc cấp tín dụng không phải bảo đảm tiền vay. Đồng thời, cần có thêm nhiều biện pháp đồng bộ để hạn chế, chấm dứt các nhu cầu vốn bất hợp pháp; các chính sách, quy định phải đủ mạnh để người dân, doanh nghiệp không dám và không thể thực hiện các nhu cầu vay vốn bất hợp pháp.
Hai là, NHNN cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành theo thẩm quyền, phối hợp/đề xuất các cơ quan quản lí nhà nước ban hành theo thẩm quyền để hướng tới môi trường “cạnh tranh hoàn hảo” trên thị trường tiền tệ - ngân hàng, nơi khách hàng có thể tự do lựa chọn, tự do chuyển đổi việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ từ TCTD này sang TCTD khác với chi phí rẻ, hợp lí. Đồng thời, các chính sách cũng cần tạo động lực thúc đẩy các TCTD phát triển thêm các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng với chi phí rẻ, hợp lí để cung cấp cho khách hàng. Các chính sách được xây dựng, ban hành mới cần bảo đảm hài hòa lợi ích của khách hàng, của các TCTD và mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.
Tài liệu tham khảo:
1. Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng. 2. Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. 3. Thông tư số 10/2023/TT-NHNN ngày 23/8/2023 của Thống đốc NHNN về ngưng hiệu lực thi hành một số nội dung của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (đã được bổ sung tại Thông tư số 06/2023/TT-NHNN). 4. Một số bài viết liên quan đến “tín dụng đen” trên cổng thông tin điện tử Bộ Công an, NHNN, Tạp chí Ngân hàng, Wikipedia… 5. Thông tin hoạt động trên trang tin điện tử của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Ngân hàng Nhà nước đã làm việc với các ngân hàng thương mại về khả năng điều chỉnh lại quy định liên quan đến tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), theo đó có thể cho phép đưa một phần tiền gửi Kho bạc Nhà nước trở lại công thức tính LDR, qua đó giảm áp lực thanh khoản cho hệ thống.
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa phê duyệt Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030, với mức hỗ trợ tối đa lên tới 1 tỷ đồng/năm cho mỗi nghiên cứu sinh trong thời gian không quá 3 năm.
Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị quyết số 86/NQ-CP về Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo do Chính phủ mới ban hành. Nghị quyết đánh dấu bước tiến quan trọng trong định hình mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây được xem là một trong những quyết sách mang tính chiến lược nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia khởi nghiệp sáng tạo năng động trong khu vực và từng bước vươn tầm toàn cầu.
Ngày 2/4, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".
Kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với đà phục hồi tích cực, song áp lực ổn định vĩ mô cũng gia tăng rõ nét. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết: để đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần những chuyển đổi mang tính cấu trúc, đi cùng cách tiếp cận chính sách linh hoạt và chủ động hơn.
Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển nhanh chóng, nơi mọi nền tảng đều cạnh tranh khốc liệt để giành lấy thời gian và sự chú ý của người dùng, một hiện tượng đáng chú ý đang dần hình thành: “annoyance economy” - “nền kinh tế gây phiền nhiễu”.
Khu đất rộng hơn 46 ha tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, nơi xây dựng Trung tâm hành chính và Quảng trường trung tâm TP.HCM đã sẵn sàng triển khai. Dự án gần 30.000 tỷ đồng được kỳ vọng tạo điểm nhấn mới cho không gian đô thị.
Tìm kiếm trên Internet nay đã khác trước. Trước đây chúng ta gõ vào cụm từ muốn tìm, chờ Google trả về kết quả và vào đọc vài ba đường dẫn đầu trang để tìm thông tin liên quan, khá mất thời gian và ít khi tìm đúng nội dung muốn tìm ngay lập tức.
Việc triển khai các nghị quyết lớn về phát triển kinh tế Việt Nam đặt ra yêu cầu khu vực kinh tế nhà nước phải thực sự phát huy vai trò “đầu tàu”, tiên phong, dẫn dắt. Các chuyên gia cho rằng: Để thực hiện được mục tiêu trên, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, trao quyền thực chất cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và phân định rõ ràng vai trò với khu vực tư nhân, qua đó tạo sự bổ trợ thay vì cạnh tranh, nhằm khai thác tối đa nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Trong bối cảnh kinh tế số tăng nhanh, nhưng đang có sự suy giảm của các yếu tố chiều sâu như công nghệ, quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam đang tạo ra giá trị hay chỉ dừng ở “gia công số”?
Những ngày đầu của nhiệm kỳ mới, loạt chỉ đạo từ Trung ương đến Chính phủ cho thấy nhịp điều hành nhanh hơn và đi thẳng vào những điểm nghẽn nhiều năm trong môi trường kinh doanh. Yêu cầu cải cách được cụ thể hóa bằng mốc thời gian, chỉ tiêu cắt giảm và trách nhiệm rõ ràng của từng bộ, ngành. Tất cả nhằm kiến tạo môi trường thuận lợi để kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, đánh thức nội lực tăng trưởng.
Ngân hàng Việt Nam đang chứng kiến làn sóng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) lan rộng trên toàn hệ thống. Từ chăm sóc khách hàng, thẩm định tín dụng đến quản trị vận hành và phát triển sản phẩm, AI dần trở thành “trục xương sống” trong chiến lược chuyển đổi số của các TCTD.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho rằng, tăng trưởng cao và bền vững là yếu tố gắn bó chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, được ví như "hai cánh của một con chim". Và chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu bắt buộc để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, bắt kịp, tiến cùng khu vực và thế giới, thực hiện 2 mục tiêu 100 năm.
“Việc giao cho TPHCM tiên phong xây dựng và triển khai “bản đồ huy động nguồn lực” không chỉ hợp lý mà còn cần thiết. Có thể xem đây như một “phòng thí nghiệm chính sách”, nơi các mô hình huy động vốn hiện đại được thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện trước khi nhân rộng ra các địa phương khác”, TS. Huỳnh Thế Du - thành viên Viện Sáng kiến Việt Nam, trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam, trao đổi với Kinh tế Sài Gòn.
(KTSG Online) - Trong khi nhiều ngân hàng trung ương thế giới có xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ, Việt Nam lại quyết định hạ lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế. Động thái này dựa trên nhận định áp lực tăng giá trong nước chủ yếu đến từ cú sốc giá năng lượng kéo theo lạm phát do nhập khẩu, cộng thêm sức ép từ tỷ giá và lạm phát chi phí đẩy do doanh nghiệp thấm đòn bởi giá nhiên liệu và vận tải leo thang.
Khát vọng tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là chỉ tiêu kinh tế mà là một mệnh lệnh chính trị đòi hỏi hành động quyết tâm, tư duy đột phá. Tại nghị trường Quốc hội, các đại biểu đã thẳng thắn "bắt đúng mạch, chỉ đúng bệnh" những điểm nghẽn mang tính cấu trúc: Từ hạ tầng số "lõm sóng", nguồn lực đất đai bị đóng băng, đến căn bệnh lãng phí hệ thống và góc khuất trong cải cách giáo dục. Hàng loạt hiến kế mang tính đột phá đã được đưa ra nhằm kiến tạo nền tảng vững chắc cho đất nước vươn mình.
Tăng trưởng xanh đang trở thành định hướng chiến lược cho phát triển dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh các giới hạn sinh thái ngày càng rõ rệt. Các nghiên cứu khoa học hiện đại khẳng định, nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào vốn tự nhiên và dịch vụ hệ sinh thái (Dasgupta, 2021). Nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng thâm dụng tài nguyên, nền kinh tế sẽ đối mặt với rủi ro suy giảm năng suất và bất ổn vĩ mô. Vì vậy, chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, năng suất, năng lượng sạch và quản trị tài nguyên bền vững là yêu cầu tất yếu, tạo nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng cao đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao chất lượng phát triển.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đầu tư hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn, trong khi các kênh dẫn vốn tương ứng vẫn chưa phát triển đầy đủ. Thực tế, nhiều dự án trọng điểm như cao tốc Bắc - Nam, Vành đai 4 hay các nhà máy nhiệt điện đều có sự tham gia của ngân hàng trong vai trò cấp tín dụng. Điều này cho thấy ngân hàng tiếp tục là kênh cung ứng vốn chủ lực, nhưng cũng đồng nghĩa với việc ngành Ngân hàng tiếp tục đối mặt với áp lực lớn về an toàn hệ thống. Do đó, theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, bài toán không chỉ là huy động vốn, mà còn là phân bổ hiệu quả, kiểm soát rủi ro và tái cân bằng thị trường tài chính.
Ngân hàng Nhà nước đã làm việc với các ngân hàng thương mại về khả năng điều chỉnh lại quy định liên quan đến tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), theo đó có thể cho phép đưa một phần tiền gửi Kho bạc Nhà nước trở lại công thức tính LDR, qua đó giảm áp lực thanh khoản cho hệ thống.
Hành trình từ những biên bản ghi nhớ hợp tác đến dòng tiền thực chảy vào nền kinh tế vẫn đang chờ đợi sự hoàn thiện về thể chế, hạ tầng và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát của Trung tâm tài chính quốc tế.
Trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) luôn giữ vai trò chủ đạo, là nòng cốt dẫn dắt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Đặc biệt trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với mục tiêu đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, DNNN cần thể hiện mạnh mẽ vị trí, vai trò nòng cốt, dẫn dắt, mở đường trong nền kinh tế.
Trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC), Đà Nẵng đang đứng trước nhiều bài toán mang tính chiến lược, từ cơ chế chính sách, hạ tầng kỹ thuật đến công nghệ vận hành... Tuy nhiên, giữa những yếu tố đó, nguồn nhân lực chất lượng cao, nổi lên như một “chìa khóa mềm” có ý nghĩa quyết định, tạo nền tảng cho sự vận hành bền vững của một hệ sinh thái tài chính hiện đại.
Theo NHNN, kể từ sau cuộc họp với Thống đốc vào ngày 9/4, xu hướng giảm lãi suất huy động đã lan rộng trên toàn hệ thống khi có tới 29 ngân hàng thương mại điều chỉnh giảm, nhiều đơn vị hạ sâu và thậm chí giảm nhiều lần chỉ trong thời gian ngắn.