Ông Nguyễn Hải Nam, đại biểu Quốc hội chuyên trách, ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội cho rằng, chuyển dịch mô hình tăng trưởng sang dựa nhiều hơn vào công nghệ cao là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Cùng với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nền kinh tế cần nguồn vốn lớn để phát triển. Bên cạnh tín dụng ngân hàng và thị trường chứng khoán, tài sản số, tài sản mã hóa có thể trở thành một kênh dẫn vốn mới, giàu tiềm năng.
Bổ sung nguồn vốn lớn để phát triển
Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam cho biết, trong khoảng 10 tháng qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản ở các cấp độ khác nhau, từ Luật, Nghị định đến Thông tư; đồng thời tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ về định danh và xác thực. Luật Công nghiệp công nghệ số thiết lập nền tảng pháp lý cho hạ tầng công nghệ mới; Luật Trí tuệ nhân tạo thể hiện cách tiếp cận quản lý lấy con người làm trung tâm và quản trị theo mức độ rủi ro. Cùng với đó, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg xác định trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và blockchain thuộc nhóm công nghệ chiến lược. Không chỉ vậy, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP mở ra cơ hội thí điểm thị trường tài sản số, tài sản mã hóa. Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng cũng tạo thêm không gian để thử nghiệm các dịch vụ, công nghệ và mô hình mới. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành thị trường tài sản mã hóa có quản lý, với điều kiện hạ tầng dữ liệu, tài sản cơ sở, quy trình định danh và cơ chế phân phối được xây dựng đầy đủ, minh bạch.
Song quá trình xây dựng thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam hiện đứng trước 4 bài toán lớn. Theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, trước hết là tìm điểm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Chính sách cần có mức độ cởi mở phù hợp để thu hút sáng kiến, công nghệ và nguồn lực mới, đồng thời bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính. Bài toán thứ hai là bảo vệ nhà đầu tư nhưng không tạo ra tâm lý ỷ lại vào Nhà nước. Khi quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư bị xâm phạm, Nhà nước cần có cơ sở pháp lý và công cụ cần thiết để bảo vệ. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải minh bạch, chịu trách nhiệm về hoạt động của mình; nhà đầu tư cũng phải tự chịu rủi ro thị trường và trách nhiệm đối với quyết định đầu tư.
Bên cạnh đó, đưa hoạt động giao dịch tài sản mã hóa về các sàn trong nước nhưng vẫn bảo đảm khả năng cạnh tranh với những nền tảng quốc tế. Việc cấp phép cho các tổ chức cung cấp dịch vụ trong nước là cần thiết, song để giữ chân nhà đầu tư và dòng vốn, họ phải có sản phẩm, chi phí, thanh khoản, công nghệ và chất lượng dịch vụ đủ sức cạnh tranh. Bài toán cuối cùng mang tính dài hạn, đó là Việt Nam có sẵn sàng nhìn nhận thị trường tài sản mã hóa như một nguồn lực mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế số hay không. Thành công của cơ chế thí điểm không chỉ được đo bằng quy mô giao dịch hay nguồn thu ngân sách, mà còn ở khả năng huy động vốn cho sản xuất, thúc đẩy mã hóa tài sản thực, phát triển công nghệ chuỗi khối và hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp tài sản số của Việt Nam.
Đặc biệt, thượng tá, TS. Nguyễn Thành Chung, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05- Bộ Công an), cho biết từ năm 2020 đến đầu năm 2025, thế giới ghi nhận hơn 660 vụ tấn công mạng trong lĩnh vực tài sản mã hóa. Riêng từ đầu năm 2026, tổn thất tiếp tục ở mức khoảng 800 triệu USD. Rủi ro chủ yếu xuất phát từ những đặc tính kỹ thuật mới của blockchain, mức đầu tư cho an ninh mạng còn hạn chế, điểm yếu con người và sức hấp dẫn ngày càng lớn của thị trường đối với tội phạm mạng. Các cuộc tấn công thường tập trung vào ví, sàn giao dịch, cầu nối và ứng dụng blockchain, đặt ra yêu cầu tăng cường đánh giá, giám sát và ứng phó sự cố đối với các hệ thống thí điểm.
![]() |
| Việt Nam đang từng bước chuẩn bị các điều kiện về pháp lý, hạ tầng và quản trị rủi ro để đưa blockchain và thị trường tài sản số, tài sản mã hóa vào vận hành |
Quản lý đủ chặt, tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo
Không chỉ vậy, ông Nguyễn Hải Nam nhấn mạnh, mở ra không gian cho một thị trường mới cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ những rủi ro đi kèm. Trong đó, phát triển tài sản số, tài sản mã hóa phải gắn với phòng, chống rửa tiền, bảo đảm an ninh mạng, qua đó tạo dựng niềm tin và thu hút các dòng vốn quốc tế hợp pháp. Đây cũng là yêu cầu quan trọng khi Việt Nam từng bước chuyển từ việc công nhận tài sản số về mặt pháp lý sang tổ chức thị trường trong thực tế. Một thị trường mới chỉ có thể phát triển bền vững khi vừa tạo được dư địa cho đổi mới sáng tạo, vừa có cơ chế quản trị đủ chặt chẽ để bảo vệ các chủ thể tham gia và bảo đảm an toàn cho nền kinh tế.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, Trưởng Văn phòng Luật sư Phan Law Vietnam, Phó Chủ tịch Hội Truyền thông - Điện tử TP. Hồ Chí Minh Phan Vũ Tuấn cho rằng, để thị trường thực sự vận hành, vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục được cụ thể hóa như phân loại tài sản, nghĩa vụ thuế, cấp phép và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản số; đẩy nhanh việc cụ thể hóa các quy định, hướng dẫn, sớm đưa khung pháp lý vào vận hành thực tế, giúp doanh nghiệp chủ động đón dòng vốn quốc tế.
Về vấn đề này, ông Tô Trần Hòa, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Quản lý thị trường giao dịch tài sản mã hóa, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (Bộ Tài chính) cho biết, thời điểm các sàn giao dịch đi vào hoạt động phụ thuộc vào tiến độ đáp ứng các điều kiện của doanh nghiệp. Hiện có 5 doanh nghiệp tương ứng với 5 sàn giao dịch đầu tiên đã được chấp thuận về nguyên tắc. Các doanh nghiệp đang hoàn thiện tiêu chuẩn an toàn thông tin cấp độ 4, quy trình nghiệp vụ cần thiết và thực hiện nghĩa vụ góp vốn 10.000 tỷ đồng trước khi chính thức thí điểm.
Đối với hoạt động phát hành và giao dịch, doanh nghiệp Việt Nam phát hành tài sản mã hóa trên cơ sở tài sản thực cho nhà đầu tư nước ngoài và chỉ nhà đầu tư nước ngoài được mua, bán. Các giao dịch phải thực hiện bằng đồng Việt Nam. Bên cạnh đó, hoạt động giao dịch phải tuân thủ nghiêm quy tắc Travel Rule của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF), gắn với nỗ lực đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “vùng xám”.