Nới trần LDR không phải “tấm vé” chung cho mọi ngân hàng

Trần Trọng Đức (Founder & CEO Virtus Prosperity)| 26/10/2026 10:21

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50), đổi mới cơ cấu quản lý các tỷ lệ an toàn của ngành ngân hàng, trong đó nổi bật là việc nới trần LDR (tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi) lên 95%. Thông tư 50 đánh dấu bước chuyển từ “nới giới hạn trên thước đo cũ” sang “thay đổi thước đo”.

Áp lực cân đối vốn

Tính đến ngày 28/9/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,6 triệu tỷ đồng, tăng 13,2% so với đầu năm. Riêng quý III, dư nợ tăng thêm khoảng 630.000 tỷ đồng so với mốc 19,97 triệu tỷ đồng cuối tháng 6. LDR bình quân của 27 ngân hàng cuối quý II tăng 118 điểm cơ bản so với quý trước và 255 điểm cơ bản so với đầu năm, dưới trần 85% nhưng cao hơn đáng kể so với trước.

Năm 2026, NHNN đã dùng hai biện pháp kỹ thuật gồm Quyết định 1743/QĐ-NHNN (Quyết định 1743) nâng phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tính vào mẫu số LDR từ 20% lên 50%. Thông tư 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn tối đa dùng cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%.

Đây chỉ là giải pháp tạm thời trên khung đo lường cũ. Càng nới thì các chỉ số càng phản ánh kém rủi ro thanh khoản thực tế và rủi ro chênh lệch kỳ hạn sẽ tăng nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh. Có thể nói, Thông tư 50 là lời giải của NHNN - thay vì tiếp tục nới, cơ quan quản lý đổi chính thước đo.

5-nang-ty-le-du-no-cho-vay-so-voi-tien-gui-toi-da-len-95-20261001164854.jpg
Giới chuyên môn đánh giá Thông tư 50/2026/TT-NHNN là bước ngoặt quan trọng giúp ngân hàng tiệm cận chuẩn Basel III

Giữ đích đến, kéo dài lộ trình

So với dự thảo ngày 13/7/2026, Thông tư 50 giữ nguyên chuẩn Basel III, nhưng nới thời điểm và ngưỡng bắt buộc. Với tỷ lệ đòn bẩy (LEV), dự thảo đặt tối thiểu 3%, còn Thông tư 50 giao Thống đốc NHNN quyết định ngưỡng và thời điểm. Với tỷ lệ đáp ứng thanh khoản (LCR), lộ trình từ 60% (tháng 10/2028) lên 100% (năm 2032) nay thành 50% (tháng 10/2028) và 100% (tháng 10/2033). Tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) giữ nguyên: 90% từ tháng 10/2028, 100% năm 2030. LDR không chuyển sang CDR như dự thảo, mà quay lại trần 95%, điều chỉnh chủ yếu ở mẫu số.

Lựa chọn này phù hợp bối cảnh. Áp ngay LEV 3% hay LCR 60% khi tín dụng tăng 13,2% sẽ buộc ngân hàng giữ thêm tiền mặt, trái phiếu chính phủ, rút bớt nguồn lực khỏi cho vay và đi ngược mục tiêu tăng trưởng.

Công thức mới: Nới trần, siết thước đo

Công thức vẫn là LDR = L/D ≤ 95%, nhưng cả hai thành phần được định nghĩa lại. Mẫu số bị thu hẹp ở các cấu phần sau: tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước chỉ tính 20% thay vì 50%. Tiền gửi của tổ chức tín dụng khác bị loại, thay bằng nguồn vốn liên ngân hàng ròng nếu dương. Giấy tờ có giá chỉ tính trái phiếu trong nước đủ điều kiện vào vốn cấp 2, nên chứng chỉ tiền gửi và kỳ phiếu bị loại. Trái phiếu doanh nghiệp nắm giữ và các khoản cấp tín dụng ngoài cho vay bị trừ.

Ngược lại, vốn vay nước ngoài (trước đây trừ khỏi tử số), vốn điều lệ, các quỹ, thặng dư vốn, lợi nhuận chưa phân phối (sau điều chỉnh) và nguồn vốn ủy thác ngân hàng chịu rủi ro được cộng vào mẫu số. Dư nợ đối với tổ chức tín dụng khác được trừ khỏi tử số.

Mẫu số mới đo nguồn vốn ổn định dành cho cho vay chứ không phải “tổng tiền gửi”. Nguồn dài hạn, ít bị rút được cộng vào; nguồn ngắn hạn hoặc kém ổn định bị thu hẹp, còn vốn đã “khóa” vào trái phiếu doanh nghiệp bị trừ. Vì vậy, LDR mới tiệm cận triết lý NSFR ngay cả khi NSFR chưa bắt buộc.

Quyết định 1743 không được đưa vào khung mới. Nhóm 4 NHTM nhà nước (Big 4) sẽ mất khoảng 188.000 tỷ đồng trong mẫu số, tương đương khoảng 179.000 tỷ đồng dư địa cho vay ở trần 95%. Do quy mô tiền gửi lớn hơn nhiều, tác động ròng vẫn dương nhưng nhỏ hơn đáng kể so với cách hiểu “trần tăng 10%”. Con số này mới xét cấu phần Kho bạc Nhà nước; các cấu phần khác có thể làm kết quả khác đi theo từng ngân hàng. Quyết định 1743 là công cụ chuyển tiếp và NHNN không muốn ngân hàng xây dư địa cho vay dài hạn trên tiền gửi Kho bạc Nhà nước vốn có rủi ro bị rút trước hạn.

“Phần thưởng tuân thủ” và 3 lựa chọn

Trần 95% không được trao tự động từ ngày 1/12/2026, mà mỗi ngân hàng có ba lựa chọn.

Một là, tiếp tục khung Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Thông tư 22) đến ngày 1/10/2028 với trần 85%, mức tính 50% tiền gửi Kho bạc Nhà nước và giới hạn 40% vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, sau đó bắt buộc chuyển sang khung mới với LCR 50%, NSFR 90%.

Hai là, đăng ký áp dụng sớm LCR và NSFR để hưởng ngay trần 95%, nhưng phải đáp ứng đồng thời hai chuẩn và chấp nhận mẫu số chặt hơn.

Ba là, đạt LCR và NSFR 100% (đăng ký áp thẳng trước ngày 1/1/2033 hoặc theo lộ trình từ tháng 10/2033), khi đó không còn bị ràng buộc bởi trần LDR, chỉ báo cáo.

Đây là thiết kế khuyến khích có chủ đích. NHNN dùng chính dư địa tín dụng, thứ các ngân hàng đang thiếu nhất, để “mua” sự tuân thủ sớm Basel III, thay vì chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính. LDR thành công cụ quá độ, còn ràng buộc khi ngân hàng chưa chứng minh năng lực quản trị thanh khoản theo chuẩn quốc tế. Muốn mở dư địa, ngân hàng phải nâng LCR, NSFR, chấp nhận chi phí vốn tăng và biên lãi ròng (NIM) chịu áp lực ngắn hạn, đổi lại là quy mô tín dụng lớn hơn và cấu trúc vốn bền vững hơn. Giới hạn 40% theo Thông tư 25 cũng sẽ dần được thay bằng NSFR, nên cả hai biện pháp nới lỏng năm 2026 chỉ là cầu nối.

Phân hóa theo chất lượng bảng cân đối

Với Quyết định 1743, phân hóa chạy theo sở hữu: Big 4 nắm 99,59% tiền gửi Kho bạc Nhà nước nên hưởng lợi gần như toàn bộ. Với Thông tư 50, ranh giới chuyển sang cấu trúc nguồn vốn và tài sản của từng ngân hàng. Lợi thế đến từ chất lượng bảng cân đối, không phải vị thế. Hưởng lợi nhiều nhất là ngân hàng vốn chủ dày, lợi nhuận giữ lại cao như VCB, MBB. Nhóm có kênh vay hợp vốn, phát hành quốc tế mạnh như VPB cũng được lợi. Nhóm tiền gửi bán lẻ ổn định, CASA cao như TCB, HDB dễ đáp ứng LCR, NSFR để đăng ký sớm. Nhóm ngân hàng nhà nước (VCB, CTG, BID) mất phần Kho bạc Nhà nước tính thêm nhưng được bù bằng trần 95%, tác động khá tích cực. Ngược lại, ngân hàng nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp hoặc cấp tín dụng ngoài cho vay lớn chịu tác động khá tiêu cực do trái phiếu doanh nghiệp bị trừ khỏi mẫu số.

Ngân hàng hội tụ cả 3 đặc điểm (vốn chủ dày, kênh vốn quốc tế, tiền gửi bán lẻ ổn định) có thể mở dư địa trước thị trường nhiều năm. Ngân hàng nhỏ sống bằng vốn liên ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn nhiều khả năng ở lại khung Thông tư 22 đến hết thời hạn chuyển tiếp. Phân hóa lúc này không còn là “quốc doanh và cổ phần”, mà là “ngân hàng có nguồn vốn dài hạn và ngân hàng sống bằng nguồn vốn ngắn hạn”.

Thông tư 50 đánh dấu bước chuyển từ “nới giới hạn trên thước đo cũ” sang “thay đổi thước đo”. Có 3 điểm chính cần chú ý: con số nới trần LDR 95% là phần thưởng có điều kiện gắn với tuân thủ LCR, NSFR, không phải là công cụ áp dụng ngay vào hiện tại. Các cơ chế quản lý của NHNN cho thấy định hướng quản lý ngành ngân hàng hướng tới tuân thủ chuẩn Basel III vào năm 2028.

Bài liên quan
  • Phát triển thị trường các-bon, giảm áp lực lên tín dụng xanh
    Thị trường các-bon vận hành hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nguồn thu từ kết quả giảm phát thải, qua đó đa dạng hóa nguồn lực cho chuyển đổi xanh và giảm áp lực lên vốn tín dụng ngân hàng. Để khơi thông dòng vốn, cần đồng thời hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng dữ liệu và năng lực thẩm định, bảo đảm các dự án vừa mang lại lợi ích môi trường, vừa có khả năng trả nợ.

(0) Bình luận
Nổi bật Tin tức IDS
Đừng bỏ lỡ
Nới trần LDR không phải “tấm vé” chung cho mọi ngân hàng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO