Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỷ giá và những biến động khó lường của kinh tế thế giới, việc điều hành lãi suất đang trở thành bài toán cân bằng giữa nhiều mục tiêu vĩ mô để làm thế nào vừa hỗ trợ tăng trưởng, khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Báo Tài chính - Đầu tư đã trao đổi với TS. Châu Đình Linh (Giảng viên Trường đại học Ngân hàng TP.HCM) về những thách thức và giải pháp trong điều hành lãi suất thời gian tới.
![]() |
| TS. Châu Đình Linh (Giảng viên Trường đại học Ngân hàng TP.HCM) |
Mặt bằng lãi suất tuy có giảm đôi chút sau cam kết của các ngân hàng với nhà điều hành, nhưng vẫn duy trì mức cao. Theo ông, vì sao lãi suất khó giảm mạnh?
Thực tế, chúng ta đang thấy một bức tranh khá phức tạp. Từ đầu tháng 4/2026, thị trường ghi nhận làn sóng giảm lãi suất dựa trên sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng thương mại, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên, nghịch lý ở chỗ mức giảm này rất hạn chế, chỉ khoảng 0,5-1%/năm đối với lãi suất tiền gửi.
Lãi suất cho vay dù có giảm, nhưng tùy thuộc vào chính sách riêng của từng ngân hàng nên vẫn chưa thực sự phản ánh hết tính thị trường. Sự giao thoa giữa áp lực thanh khoản và lạm phát đang tạo ra một “ma trận” các yếu tố chi phối, khiến việc giảm sâu lãi suất trở nên vô cùng thách thức.
Nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất huy động khó giảm sâu do các ngân hàng vẫn phải duy trì mức lãi suất thực dương để giữ chân người gửi tiền. Ông nhìn nhận vấn đề này thế nào?
Đây là một trong những nguyên tắc cốt lõi mà người gửi tiền cân nhắc. Để thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư, ngân hàng bắt buộc phải duy trì lãi suất huy động ở mức thực dương, tức là lãi suất tiền gửi phải cao hơn tỷ lệ lạm phát.
Hiện nay, lạm phát đã tiệm cận mức 4% và dự báo có thể vượt ngưỡng 4,5% vào cuối năm do các yếu tố chi phí đẩy từ giá năng lượng và hàng hóa nhập khẩu. Thêm vào đó, tâm lý tăng lương cơ sở vào tháng 7 tới cũng tạo áp lực lên mặt bằng giá cả. Do đó, lãi suất huy động khó có thể thấp hơn mức lạm phát này và rất khó để giảm sâu. Để giữ chân khách hàng, các ngân hàng buộc phải duy trì mặt bằng lãi suất ổn định 7-8%/năm cho các kỳ hạn dài và chưa thể giảm sâu như kỳ vọng.
![]() |
| Lãi suất hiện vẫn duy trì ở mức cao, khiến việc cân bằng các mục tiêu vĩ mô cần những biện pháp điều hành linh hoạt |
Ngoài áp lực lạm phát, dường như các ngân hàng còn đang phải cạnh tranh gay gắt với các kênh đầu tư khác để giữ chân dòng tiền tiết kiệm trong lúc này?
Đúng vậy. Quý I/2026 cho thấy, huy động vốn toàn hệ thống và tại các ngân hàng thương mại sụt giảm nhẹ. Một phần nguyên nhân là do thay đổi chính sách không tính tiền gửi ngân sách nhà nước vào tổng huy động, nhưng phần lớn đến từ sự dịch chuyển của dòng tiền sang các kênh có kỳ vọng sinh lời cao hơn như vàng, chứng khoán và các phân khúc bất động sản như chung cư hay đất nền.
Tuy tiền gửi ngân hàng vẫn là kênh chủ đạo, nhưng để đảm bảo tính thanh khoản và tối ưu hóa lợi nhuận, các ngân hàng không thể giảm lãi suất đột ngột mà phải cố gắng giữ ổn định để chi trả cho các hợp đồng tiền gửi cũ đến hạn tất toán.
Vậy còn áp lực bên ngoài thì sao. Những động thái từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang tác động thế nào đến tỷ giá và lãi suất tại Việt Nam, thưa ông?
Với một nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam không thể đứng ngoài các biến số quốc tế. Hiện nay, Fed vẫn giữ thái độ thận trọng, chưa giảm lãi suất ngay do lạm phát tại Mỹ vẫn cao và bất ổn địa chính trị tại Trung Đông. Nếu Fed chưa sớm hạ lãi suất USD, áp lực tỷ giá năm nay sẽ còn cao và không hề dễ dàng đối với lãi suất.
Chúng ta cũng thấy một thực tế ở các nguồn ngoại tệ truyền thống như kiều hối. Tại TP.HCM, kiều hối quý I/2026 đạt hơn 2,004 tỷ USD, nhưng đã giảm 15,6% so với quý IV/2025 và giảm 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, rất may là dòng vốn FDI (cả đăng ký và giải ngân) đang ở mức rất cao, đóng vai trò là điểm sáng bù đắp quan trọng, giúp giảm bớt sức ép lên tỷ giá và duy trì ổn định vĩ mô.
Một vấn đề nhức nhối là dù lãi suất đầu ra giảm nhẹ, nhưng nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), vẫn than phiền là “khát vốn”. Theo ông, đâu là nút thắt?
Đây là nghịch lý về sức hấp thụ vốn. Dòng vốn hiện đang có sự phân cực rõ rệt: chảy mạnh vào đầu tư công, dự án bất động sản ở thực, bất động sản công nghiệp, các tập đoàn lớn và khối FDI. Ngược lại, hộ kinh doanh, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa lại gặp khó. Rào cản lớn nhất không chỉ nằm ở lãi suất, mà là quy trình thẩm định tín dụng truyền thống quá khắt khe về hồ sơ và tài sản thế chấp.
Để khơi thông dòng vốn, tôi cho rằng cần một cách tiếp cận mới.
Thứ nhất, cho vay dựa trên dòng tiền. Cởi mở hơn với hình thức vay tín chấp dựa trên kết quả chuyển đổi số và dòng tiền thực tế của doanh nghiệp, thay vì chỉ nhìn vào tài sản thế chấp.
Thứ hai, vốn mồi từ Chính phủ. Tăng cường vai trò của các gói tín dụng ưu đãi và các quỹ hỗ trợ SME để kích hoạt sức hấp thụ vốn trong bối cảnh room tín dụng 15% năm nay.
Về phía điều hành chính sách và cách quản lý room tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế tốt hơn trong giai đoạn tới, cần giải pháp gì để khơi thông vốn, thưa ông?
Chúng ta đang có cơ chế phân bổ tín dụng theo từng quý, không quá 25% trong quý I/2026 để kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, để không làm lỡ nhịp phục hồi của doanh nghiệp, chính sách cần linh hoạt và hợp lý hơn nữa. Không nên cứng nhắc giải ngân theo từng quý, mà cần điều phối theo thực tế nhu cầu và khả năng hấp thụ của thị trường.
Trong giai đoạn tới, phương châm hành động của chúng ta nên là “khéo co thì ấm”. Việc duy trì lãi suất ổn định, kiểm soát lạm phát thông qua các công cụ thuế, phí (như thuế nhập khẩu năng lượng) và quỹ bình ổn phải là ưu tiên hàng đầu. Nếu chúng ta điều hành linh hoạt và tận dụng tốt điểm tựa từ dòng vốn FDI, Việt Nam hoàn toàn có thể vượt qua các “gọng kìm” để đạt mục tiêu tăng trưởng.