Chậm AI, nhà máy Việt đối diện nguy cơ ‘rớt’ chuỗi cung ứng
Lê Hoàng|17/12/2025 17:43
(KTSG Online) - So với các nước trong khu vực, Việt Nam đã chậm một nhịp trong việc đưa AI vào nhà máy. Nhưng theo các chuyên gia, vấn đề hiện nay không còn là "ứng dụng sớm hay muộn", mà là "có ứng dụng hay không", bởi khoảng cách đang mở ra quá nhanh, và nếu không hành động, nguy cơ bị đẩy ra ngoài chuỗi giá trị là rất rõ ràng.
Phó Giáo sư Ali Al-Dulaimi, chia sẻ thông tin chỉ 18% doanh nghiệp Việt ứng dụng AI.
Thông tin trên được ghi nhận tại hội thảo "Ứng dụng AI: Tối ưu quy trình trong sản xuất" do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TPHCM (ITPC) phối hợp với Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) tổ chức chiều 16-12.
Thông tin trên cho thấy bức tranh ngày càng rõ trong sản xuất Việt Nam khi chỉ một số ít doanh nghiệp đã vận hành dựa trên dữ liệu và AI, còn phần lớn vẫn lệ thuộc vào kinh nghiệm, Excel và các quy trình thủ công rời rạc. Nếu khoảng cách ấy tiếp tục nới rộng, đó không chỉ là chênh lệch công nghệ mà sẽ biến thành khoảng cách về năng suất, vị thế trong chuỗi cung ứng và thậm chí là khả năng tồn tại của doanh nghiệp.
Đã chậm, nhưng chưa hết đường
Theo các thống kê được chia sẻ tại hội thảo, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng AI hiện chỉ khoảng 18%, thấp hơn đáng kể so với Thái Lan (25%) và Singapore (40%), chưa kể khoảng cách rất xa so với các trung tâm sản xuất tiên tiến trên thế giới. Điều này cho thấy Việt Nam đã bỏ lỡ giai đoạn "đi sớm" trong ứng dụng AI.
Phân tích sâu hơn, Phó Giáo sư Ali Al-Dulaimi, Phó Giáo sư Ali Al-Dulaimi, Trưởng khoa Khoa học Máy tính và Công nghệ, (BUV), cho biết chỉ khoảng 9% doanh nghiệp, chủ yếu là các tập đoàn lớn và khối doanh nghiệp FDI, đã triển khai những công nghệ AI ở mức độ cao như bản sao số (digital twin), phân tích dự báo hay tự động hóa thông minh.
Trong khi đó, 91% còn lại, phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn loay hoay với bài toán dữ liệu không chuẩn hóa, thiếu nhân lực công nghệ và chưa có lộ trình chuyển đổi rõ ràng.
Hệ quả là nguy cơ hình thành một nền kinh tế phân tầng ngay trong nội tại ngành sản xuất khi nhóm doanh nghiệp dẫn đầu ngày càng gia tăng lợi thế còn số đông đứng trước nguy cơ bị "kẹt" ở phân khúc gia công giá trị thấp.
Thách thức này trở nên gay gắt hơn trong bối cảnh mô hình tăng trưởng dựa trên lợi thế chi phí lao động đang dần suy yếu. Chiến lược "Trung Quốc cộng 1" từng giúp Việt Nam thu hút dòng vốn sản xuất trong hơn một thập kỷ qua, nhưng trong bối cảnh AI, tự động hóa và các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, lợi thế đó không còn mang tính quyết định.
"Việt Nam cộng Trí tuệ", theo cách gọi của Phó Giáo sư Ali, mới là hướng đi giúp doanh nghiệp nội địa giữ vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. AI, nếu được triển khai đúng cách, có thể trở thành công cụ để doanh nghiệp Việt bù đắp hạn chế về quy mô, vốn và nhân lực, qua đó nâng cao năng suất và chất lượng.
Ở cấp độ vận hành, AI đang làm thay đổi bản chất của nhà máy. Sản xuất không chỉ dừng ở tự động hóa, mà tiến tới mức độ tự chủ, nơi AI tham gia hỗ trợ ra quyết định. Các hệ thống "AI vật lý" và "AI đại diện" cho phép robot học từ tương tác thực tế, phối hợp với con người thay vì thay thế hoàn toàn.
Một ví dụ được nêu tại hội thảo là nhà máy lắp ráp điện tử quy mô vừa tại Bắc Ninh khi ứng dụng thị giác máy tính dựa trên AI mã nguồn mở giúp tăng tốc độ phát hiện lỗi lên gấp bốn lần, đồng thời giảm 15% tỷ lệ phế phẩm. Những con số này cho thấy AI tác động trực tiếp đến chi phí, chất lượng và khả năng giao hàng, các yếu tố sống còn trong cạnh tranh với nhà sản xuất.
Không chỉ dừng ở bài toán nội bộ, AI còn đang trở thành yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản mới của thương mại quốc tế. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU, buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải chứng minh mức phát thải trên từng đơn vị sản phẩm.
Trong bối cảnh đó, các hệ thống AI theo dõi và tối ưu tiêu thụ năng lượng theo thời gian thực không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm trung bình 15-20% chi phí năng lượng, mà còn tạo nền tảng dữ liệu để đáp ứng yêu cầu minh bạch carbon, mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn xanh, một lợi thế cạnh tranh ngày càng quan trọng.
Điểm nghẽn không nằm ở công nghệ
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, công nghệ không phải nút thắt lớn nhất khi ứng dụng AI vào sản xuất; rào cản cốt lõi nằm ở con người và dữ liệu. AI không thể tạo giá trị nếu doanh nghiệp thiếu đội ngũ đủ năng lực vận hành, cải tiến hệ thống và không có dữ liệu chất lượng.
Phó Giáo sư Ali Al-Dulaimi nhấn mạnh, chuyển đổi AI là đầu tư cho con người, đào tạo để người lao động chuyển từ làm thủ công sang giám sát, phân tích và quản lý hệ thống. Nếu con người không thay đổi, AI chỉ mang tính trình diễn.
Các chuyên gia thao luận tại hội thảo
Thực tế tại các nhà máy cho thấy áp lực này ngày càng rõ. Ông Hoàng Văn Tam, Nhà sáng lập kiêm CEO Digitech Solutions, nhận định phần lớn doanh nghiệp sản xuất Việt Nam không thiếu công nghệ, mà thiếu hiệu quả vận hành và khả năng khai thác dữ liệu. Nhiều nhà máy vẫn đối mặt với tình trạng đơn hàng chồng chéo, giao hàng trễ, khó kiểm soát chất lượng, thiếu nhân lực và tiềm ẩn rủi ro an toàn lao động.
Đáng chú ý, ngay cả những doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống ERP, MES cũng chưa giải được bài toán gốc. Nguyên nhân nằm ở sự thiếu kết nối giữa các hệ thống, dữ liệu rời rạc và quy trình trên giấy không phản ánh đúng thực tế sản xuất. Hệ quả là "kế hoạch một đằng, vận hành một nẻo", khiến doanh nghiệp khó tối ưu và phản ứng chậm trước biến động.
Từ kinh nghiệm tư vấn, ông Tam cho rằng AI có thể đóng vai trò như "bộ não trung tâm" của nhà máy, hỗ trợ lập kế hoạch sản xuất theo thời gian thực, bảo trì dự báo, kiểm soát lỗi bằng thị giác máy, dự báo nguyên liệu và giám sát an toàn lao động. AI còn giúp đưa quy trình từ giấy tờ vào vận hành hằng ngày. Nhiều giải pháp có thể tận dụng dữ liệu và hệ thống camera sẵn có, với chi phí phù hợp. "Chìa khóa không phải đầu tư ồ ạt, mà là kết nối dữ liệu, quy trình và con người, từng bước xây dựng nhà máy thông minh với AI làm trung tâm", ông nhấn mạnh.
Ở tầm vĩ mô, năng suất lao động vẫn là điểm nghẽn lớn của nền kinh tế. Theo TS Dương Hồng Loan, trong khi châu Á Thái Bình Dương tăng tốc nhờ công nghệ, Việt Nam bị kìm hãm bởi năng suất thấp. GDP trên mỗi giờ lao động chỉ khoảng 12, bằng nửa mức trung bình toàn cầu và còn xa các nền kinh tế dẫn đầu khu vực.
Khoảng cách này phản ánh hạn chế về chất lượng nhân lực khi gần 95% lao động sản xuất thiếu kỹ năng dữ liệu và công nghệ số. Khoảng 70% cần bổ sung kiến thức liên quan đến AI, nhưng chi phí, thời gian và chất lượng đào tạo lại là rào cản, khiến chuyển đổi chậm hơn yêu cầu thị trường.
Ngành sản xuất Việt Nam đang ở ngã rẽ. AI đã trở thành động lực then chốt của năng suất và cạnh tranh. Câu hỏi không còn là có áp dụng hay không, mà là triển khai thế nào cho hiệu quả, có trách nhiệm và phù hợp năng lực doanh nghiệp.
Về chiến lược, các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp cần tiếp cận AI theo hướng thực dụng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa nên tập trung vào những ứng dụng chi phí thấp, tạo giá trị trực tiếp; doanh nghiệp lớn phải hướng tới tự động hóa và quản trị dựa trên dữ liệu ở quy mô toàn diện.
Dù khác nhau về quy mô, điểm chung mang tính quyết định vẫn là con người. AI không phải phép màu, nhưng là đường ranh sinh tồn. Doanh nghiệp Việt có thể đi chậm, nhưng không thể đứng yên.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp trầm lắng trong quý III/2026 khi giá trị phát hành giảm 26% so với quý trước, trong khi lãi suất phát hành tiếp tục xu hướng tăng ở tất cả các nhóm ngành.
Đánh giá cao kết quả tăng trưởng ấn tượng của năm 2026 và đồng tình với chỉ tiêu tăng trưởng 10% trở lên của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, song các vị đại biểu Quốc hội cũng đưa ra những góc nhìn nhiều chiều xoay quanh việc giao chỉ tiêu và phương thức thực hiện.
Đại biểu Quốc hội nhấn mạnh khi trí tuệ nhân tạo tìm ra đáp án nhanh hơn bất kỳ học sinh nào, nhà trường buộc phải dạy những điều máy móc không làm thay được, đó là biết đặt câu hỏi, biết suy luận.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang thay đổi theo hướng ưu tiên sự an toàn, ổn định và các ngành chiến lược, đòi hỏi Việt Nam chuyển trọng tâm từ ưu đãi đại trà sang cạnh tranh bằng năng lực nền và chất lượng môi trường đầu tư.
Tăng trưởng kinh tế và hội nhập tài chính quốc tế đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực chống chịu của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Triển khai Basel III sẽ góp phần củng cố nền tảng vốn, tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống và tạo động lực cho phát triển tài chính bền vững.
Phố Wall đang huy động hàng chục tỷ USD để tài trợ cho hạ tầng chip AI, với những mô hình tương tự hoạt động cho thuê máy bay thương mại. Tuy nhiên, khi các nhà sản xuất chip cũng tham gia đầu tư và bảo đảm tài chính, việc liên tục tung ra công nghệ mới có thể tạo sức ép lên giá trị kinh tế của những thiết bị đã bán.
Đánh giá cao kết quả tăng trưởng ấn tượng của năm 2026 và đồng tình với chỉ tiêu tăng trưởng 10% trở lên của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, song các vị đại biểu Quốc hội cũng đưa ra những góc nhìn nhiều chiều xoay quanh việc giao chỉ tiêu và phương thức thực hiện.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp trầm lắng trong quý III/2026 khi giá trị phát hành giảm 26% so với quý trước, trong khi lãi suất phát hành tiếp tục xu hướng tăng ở tất cả các nhóm ngành.
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang châm ngòi cho một cuộc đua tranh giành nguồn vốn trên toàn cầu, buộc các NHTW phải cân nhắc về một tương lai mà ở đó lãi suất duy trì ở mức cao, còn các chính phủ buộc phải thắt lưng buộc bụng sau một thời kỳ chi tiêu hào phóng.
Đại biểu Quốc hội nhấn mạnh khi trí tuệ nhân tạo tìm ra đáp án nhanh hơn bất kỳ học sinh nào, nhà trường buộc phải dạy những điều máy móc không làm thay được, đó là biết đặt câu hỏi, biết suy luận.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, khi mục tiêu tăng trưởng đòi hỏi sức bật từ mọi khu vực kinh tế thì quan điểm “học một lần, làm cả đời” không còn phù hợp trước sự thay đổi vượt bậc của công nghệ và các yêu cầu tái cấu trúc lao động.
Trong bối cảnh xuất khẩu nhóm hàng điện tử, máy móc và thiết bị tiếp tục tăng trưởng mạnh, ngành cơ khí, điện TP. Hồ Chí Minh đứng trước cơ hội mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, doanh nghiệp cần đẩy nhanh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang thay đổi theo hướng ưu tiên sự an toàn, ổn định và các ngành chiến lược, đòi hỏi Việt Nam chuyển trọng tâm từ ưu đãi đại trà sang cạnh tranh bằng năng lực nền và chất lượng môi trường đầu tư.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo 46 ngân hàng thương mại (NHTM) diễn ra sáng nay (19/10), Thống đốc Phạm Đức Ấn đề nghị các ngân hàng chia sẻ lợi nhuận, đồng lòng giảm chi phí vốn để giảm lãi suất cho vay.
Tăng trưởng kinh tế và hội nhập tài chính quốc tế đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực chống chịu của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Triển khai Basel III sẽ góp phần củng cố nền tảng vốn, tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống và tạo động lực cho phát triển tài chính bền vững.
Trong mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, giá trị của một doanh nghiệp không còn chỉ đo đếm bằng quy mô nhà xưởng, đất đai hay máy móc, mà nằm ở dữ liệu, thuật toán, sở hữu trí tuệ, năng lực công nghệ và đội ngũ nhân sự. Tuy nhiên, nghịch lý lớn nhất hiện nay của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo không nằm ở sự khan hiếm nguồn lực, mà nằm ở sự thiếu đồng nhịp giữa cấu trúc tài chính truyền thống và bản chất của kinh tế số. Bởi vậy, sự hợp tác chặt chẽ giữa ngân hàng thương mại và các công ty công
Phố Wall đang huy động hàng chục tỷ USD để tài trợ cho hạ tầng chip AI, với những mô hình tương tự hoạt động cho thuê máy bay thương mại. Tuy nhiên, khi các nhà sản xuất chip cũng tham gia đầu tư và bảo đảm tài chính, việc liên tục tung ra công nghệ mới có thể tạo sức ép lên giá trị kinh tế của những thiết bị đã bán.
Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2027, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh đề nghị kiên định giữ vững ổn định vĩ mô, coi đây là điều kiện tiên quyết của chất lượng tăng trưởng.
Trạng thái đầu tư quốc tế (IIP) không chỉ phản ánh vị thế tài sản và nghĩa vụ tài chính của một quốc gia với thế giới, mà còn là công cụ quan trọng để nhận diện sớm rủi ro đối ngoại. Từ kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất hoàn thiện khung quản trị IIP tại Việt Nam theo hướng hiện đại, tích hợp và dựa trên rủi ro.
Thị trường các-bon vận hành hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nguồn thu từ kết quả giảm phát thải, qua đó đa dạng hóa nguồn lực cho chuyển đổi xanh và giảm áp lực lên vốn tín dụng ngân hàng. Để khơi thông dòng vốn, cần đồng thời hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng dữ liệu và năng lực thẩm định, bảo đảm các dự án vừa mang lại lợi ích môi trường, vừa có khả năng trả nợ.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo tăng trưởng thế giới năm 2026 lên 3,1%, khi đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) giúp bù đắp cú sốc năng lượng. Nhưng phía sau triển vọng sáng hơn là khoảng cách tăng trưởng ngày càng lớn.
Nhiều chuyên gia cho rằng làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở rộng cơ hội xuất khẩu sản phẩm công nghệ cho Việt Nam, nhưng dư địa tăng trưởng lớn hơn nằm ở khả năng ứng dụng AI để nâng cao năng suất; nới rộng dư địa cho tăng trưởng kinh tế hai con số.
Chưa bao giờ hai chữ "tư nhân" được đặt ở vị trí như hôm nay. Từ một khu vực từng được nhìn nhận chủ yếu với vai trò bổ sung, kinh tế tư nhân nay được xác định là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia", đồng thời được kỳ vọng trở thành lực lượng tiên phong về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2026 và dự kiến Kế hoạch năm 2027.
Xuất siêu xuất hiện trở lại trong tháng gần nhất chưa đủ để đảo chiều cán cân thương mại, khi làn sóng nhập khẩu tư liệu sản xuất và công nghệ cao tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. Đây là chi phí đầu vào cần thiết cho một chu kỳ tăng trưởng mới, nhưng hiệu quả dài hạn đòi hỏi khả năng chuyển hóa máy móc, thiết bị thành năng lực sản xuất thực chất và gia tăng giá trị nội địa.
Kinh tế Việt Nam tăng trưởng gần 10% trong quý III, thu nhập người lao động cải thiện nhanh hơn lạm phát, trong khi người Việt dẫn đầu năm thị trường ASEAN về tỷ lệ tiết kiệm. Những điều kiện ấy đang mở rộng khả năng tích lũy của các gia đình. Nhưng để tiền dành dụm trở thành tài sản lâu dài, ý thức tiết kiệm mới chỉ là điểm khởi đầu.