Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân ban hành vào tháng 5/2025 đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế; trong đó, có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Tiếp đó, tại Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước ban hành vào tháng 1/2026 đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Cùng với đó, xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt là trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế.
Thực tế sau 40 năm Đổi mới (1986-2026), theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Việt Nam đã xuất hiện những tập đoàn kinh tế lớn trong nhiều lĩnh vực. Cụ thể, trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, Trường Hải (THACO) đã xây dựng một hệ sinh thái sản xuất ô tô và cơ khí tại Quảng Nam với quy mô thuộc hàng lớn nhất Đông Nam Á.
Hay VinFast là trường hợp đặc biệt đáng chú ý khi trở thành nhà sản xuất ô tô điện đầu tiên của Việt Nam, xây dựng nhà máy quy mô lớn tại Hải Phòng, niêm yết trên sàn chứng khoán Nasdaq và triển khai bán xe tại nhiều thị trường quốc tế bao gồm Bắc Mỹ, châu Âu và Đông Nam Á.
Ngoài ra, Tập đoàn Hòa Phát từ một xưởng nội thất nhỏ đã vươn lên thành nhà sản xuất thép hàng đầu Đông Nam Á, với công suất hàng triệu tấn thép mỗi năm, cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn thép quốc tế trên nhiều thị trường xuất khẩu.
Trong lĩnh vực công nghệ, FPT đã trở thành một trong những doanh nghiệp công nghệ thông tin lớn nhất khu vực, có mặt tại hàng chục quốc gia, cung cấp dịch vụ chuyển đổi số cho nhiều tập đoàn đa quốc gia. Trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, Vinamilk đã xây dựng thương hiệu sữa Việt Nam có mặt tại hơn 50 quốc gia, với hệ thống trang trại và nhà máy đạt chuẩn quốc tế. Masan đã phát triển một hệ sinh thái tiêu dùng từ thực phẩm, đồ uống đến bán lẻ, phục vụ hàng chục triệu người tiêu dùng mỗi ngày.
Đây là những doanh nghiệp đã chứng minh rằng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng thương hiệu quốc gia có sức cạnh tranh khu vực.
Trong lĩnh vực hạ tầng và bất động sản, Vingroup đã thực hiện những dự án có quy mô chưa từng có tiền lệ trong lịch sử doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, từ đô thị, bệnh viện, trường học đến sản xuất ô tô điện. Sun Group, BRG và nhiều tập đoàn khác cũng đã đầu tư hàng tỷ đô la vào hạ tầng du lịch, nghỉ dưỡng, sân bay, góp phần thay đổi diện mạo nhiều vùng kinh tế.
Theo thống kê, tính đến hết năm 2025, Việt Nam có tổng số gần 1,1 triệu doanh nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, theo ông Đậu Anh Tuấn, khu vực Việt Nam, “lực lượng này đông nhưng chưa mạnh, rộng nhưng chưa sâu”.
Trong khi đó, theo ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chiến lược chính sách Trung ương, đa phần các doanh nghiệp thời gian qua vẫn phụ thuộc vào vốn, trong khi đó, để thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2045, cần phải có những tập đoàn kinh tế tập trung hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp.
Cùng quan điểm trên, chuyên gia kinh tế Trần Đình Thiên cho rằng, kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, muốn trở thành cường quốc kinh tế thì phải có những tập đoàn kinh tế đủ mạnh để dẫn dắt nền kinh tế, các tập đoàn này cần có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Các doanh nghiệp này không chỉ phải chống chịu trước những biến động kinh tế toàn cầu, mà còn được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Doanh nghiệp Việt Nam vốn đã trẻ, nhỏ và yếu, nếu tiếp tục bị hạn chế về không gian phát triển thì rất khó trưởng thành thành những doanh nghiệp đủ tầm dẫn dắt. Theo đó, để có các tập đoàn kinh tế mạnh, theo ông Trần Đình Thiên, Việt Nam cần thay đổi cách hỗ trợ doanh nghiệp. Bởi cách làm cũ theo kiểu hỗ trợ dàn trải, giống như “rải thóc cho chim sẻ ăn”, thường chỉ tạo ra những doanh nghiệp nhỏ, khó hình thành các tập đoàn lớn. Trong giai đoạn mới, chính sách cần chuyển sang hỗ trợ có trọng tâm, tập trung vào các doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa cho toàn bộ chuỗi sản xuất.
Chia sẻ thêm về định hướng phát triển công nghiệp, chuyên gia Trần Đình Thiên nhấn mạnh rằng muốn trở thành cường quốc thì phải làm chủ công nghệ. Tuy nhiên, việc lựa chọn ngành công nghiệp ưu tiên và hướng phát triển cụ thể cần được tính toán kỹ lưỡng, với cách tiếp cận tỉnh táo và có trọng tâm, trọng điểm.
Chia sẻ với phóng viên về kinh nghiệm quốc tế, ông Nguyễn Cảnh Cường, Giảng viên chuyên gia Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, Nhật Bản từng bứt phá nhờ lựa chọn đúng ngành chiến lược và kiên trì đầu tư dài hạn. Hàn Quốc xây dựng được các tập đoàn đầu tàu như Samsung hay Hyundai, từ đó kéo theo cả hệ sinh thái công nghiệp. Trung Quốc đã tận dụng quy mô thị trường, kết hợp chính sách mạnh mẽ để phát triển các cụm công nghiệp quy mô lớn và từng bước làm chủ chuỗi giá trị.

Có thể nói, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, đang tạo ra một khung chính sách tương đối đồng bộ cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp Việt Nam. Cơ hội đã hiện hữu, nền tảng đã được đặt ra. Vấn đề còn lại nằm ở năng lực thực thi và sự kiên định trong lựa chọn con đường phát triển.
Nếu tận dụng tốt giai đoạn này, 10 năm tới có thể sẽ là thời điểm Việt Nam hình thành được những tập đoàn kinh tế đủ tầm khu vực, từng bước khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu và hiện thực hóa mục tiêu “vươn mình” của nền kinh tế.