Tiền gửi tại nhiều ngân hàng tăng chậm, thậm chí sụt giảm trong quí đầu năm 2026 trong khi tín dụng mở rộng khá mạnh. Diễn biến này phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn khi tỷ lệ cho vay trên huy động đã vượt 100%, cùng sự dịch chuyển dòng tiền do yếu tố mùa vụ, bất động sản và tâm lý nắm giữ tiền mặt gia tăng.

Tại tọa đàm do Thời báo Ngân hàng tổ chức mới đây, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cho biết đến ngày 28-4-2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã vượt 19,4 triệu tỉ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng tới 18,26% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng khá tích cực trong bối cảnh nền kinh tế đang hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Dòng vốn tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn; doanh nghiệp nhỏ và vừa; xuất khẩu hay công nghệ cao. Riêng tín dụng nông nghiệp, nông thôn đã đạt khoảng 4,3 triệu tỉ đồng, chiếm hơn 22% tổng dư nợ. Tín dụng xanh cũng vượt 780.000 tỉ đồng.
Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng tín dụng là bài toán ngày càng khó hơn với các ngân hàng: nguồn vốn để tiếp tục mở rộng cho vay sẽ đến từ đâu khi huy động vốn đang có dấu hiệu chậm lại rõ rệt?
Theo số liệu NHNN công bố, từ quí 4-2025 đến giữa tháng 3-2026, tốc độ tăng trưởng huy động vốn liên tục thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Quy mô huy động vốn bằng đồng Việt Nam hiện thấp hơn dư nợ tín dụng khoảng 2 triệu tỉ đồng. Điều này đồng nghĩa hệ thống ngân hàng đang cho vay ra nhiều hơn đáng kể so với lượng vốn huy động được từ nền kinh tế.
Bức tranh từ báo cáo tài chính quí 1-2026 của các ngân hàng càng cho thấy áp lực này rõ hơn. Tổng hợp từ 27 ngân hàng thương mại niêm yết cho thấy tổng tiền gửi khách hàng chỉ tăng khoảng 0,6% so với cuối năm 2025, trong khi tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống cùng kỳ đạt khoảng 3,7%.
Đáng chú ý, có tới 12/27 ngân hàng ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm trong quí đầu năm - mức cao hiếm thấy trong nhiều năm trở lại đây. Điều này cho thấy áp lực huy động vốn không còn mang tính cục bộ mà đã lan rộng trong toàn hệ thống.
Trong báo cáo vừa công bố, SSI Research còn chỉ ra rằng, có sự phân hóa tiền gửi theo khối, cụ thể là nhóm Big 4 (Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank) giảm 0,7 điểm phần trăm tiền gửi khách hàng, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân tăng 1,3 điểm phần trăm.
Trong bối cảnh hiện nay, khả năng huy động vốn đang trở thành yếu tố quyết định khả năng mở rộng tín dụng của các ngân hàng, SSI Research nhận định. Nguyên nhân sâu xa nằm ở tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của toàn hệ thống đã vượt 100% vào cuối quí 1-2026, cho thấy quy mô tín dụng hiện đã lớn hơn lượng tiền gửi huy động từ khách hàng.
Hệ quả trực tiếp là thanh khoản của hệ thống ngân hàng ngày càng phụ thuộc vào các nguồn vốn thay thế như tiền gửi Kho bạc Nhà nước, kênh thị trường mở (OMO) và vốn nước ngoài, thay vì nền tảng bền vững từ tăng trưởng tiền gửi cốt lõi.
Bên cạnh đó, theo SSI Research, diễn biến huy động kém tích cực trong quí đầu năm phản ánh đồng thời cả yếu tố cấu trúc lẫn yếu tố mùa vụ.
Một phần dòng tiền vẫn chưa quay trở lại hệ thống ngân hàng sau giai đoạn bất động sản hút vốn mạnh; trong khi doanh nghiệp thường có xu hướng giảm tiền gửi vào đầu năm để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, tâm lý gia tăng nắm giữ tiền mặt trước những thay đổi chính sách cũng ảnh hưởng đến dòng tiền gửi.
Tính toán của Bộ Tài chính cho thấy, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2031 ước khoảng 38,5 triệu tỉ đồng; riêng năm 2026 khoảng 5,1 triệu tỉ đồng, trong đó nhu cầu vốn tín dụng khoảng 1,8 triệu tỉ đồng.
Về lý thuyết, quy mô vốn tín dụng này vẫn nằm trong định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% mà NHNN đặt ra cho năm nay. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay không còn đơn thuần là “room” tín dụng, mà là khả năng tạo lập nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong khi vẫn bảo đảm an toàn hệ thống.
Nếu huy động vốn tiếp tục tăng chậm trong khi tín dụng mở rộng nhanh, cạnh tranh huy động giữa các ngân hàng gần như khó tránh khỏi, qua đó tạo thêm áp lực lên lãi suất huy động trong thời gian tới. Nhưng mặt khác, nền kinh tế vẫn cần mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ phục hồi và duy trì mục tiêu tăng trưởng cao.
Chính phủ nhiều lần yêu cầu ngành ngân hàng tiết giảm chi phí, giữ ổn định và phấn đấu giảm thêm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn. Vừa phải hỗ trợ tăng trưởng, vừa phải duy trì ổn định thanh khoản, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng lớn hơn - đây thực sự là tình thế lưỡng nan của cơ quan điều hành chính sách tiền tệ.
Dù vậy, nhiều tổ chức phân tích vẫn kỳ vọng áp lực huy động vốn có thể dần hạ nhiệt từ quí 2-2026. SSI Research cho biết, một số yếu tố hỗ trợ đang xuất hiện đồng thời như mặt bằng lãi suất huy động vẫn ở mức tương đối hấp dẫn; dòng tiền doanh nghiệp có thể quay lại hệ thống ngân hàng theo chu kỳ mùa vụ; hay một số thay đổi chính sách thuế được kỳ vọng hỗ trợ dòng tiền quay lại ngân hàng.
Ngoài ra, nếu việc huy động vốn từ nước ngoài được triển khai hiệu quả, trong khi nhu cầu tín dụng giảm nhiệt phần nào do mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức khá cao, thanh khoản toàn hệ thống có thể ổn định hơn trong thời gian tới.
Tuy nhiên, về dài hạn, câu chuyện lớn hơn vẫn là làm sao giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Bởi khi gánh gần như toàn bộ vai trò cung ứng vốn cho tăng trưởng, hệ thống ngân hàng không chỉ chịu áp lực thanh khoản mà còn phải đối mặt với rủi ro kỳ hạn, rủi ro lãi suất và áp lực bảo đảm an toàn hệ thống ngày càng lớn hơn.
Trong một nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, việc phát triển sâu hơn thị trường vốn - từ trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư đến các kênh huy động vốn dài hạn, có lẽ không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để chia sẻ gánh nặng với hệ thống ngân hàng.