Huy động vốn quốc tế: Mảnh ghép cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 09:58, 28/10/2026

Nhu cầu vốn khổng lồ, tín dụng ngân hàng khó gánh vác
Tháng 4/2026, Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026–2030, đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong cả giai đoạn được đặt ra ở mức khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 1.460 tỷ USD, gấp khoảng hai lần giai đoạn trước.
Như vậy, bình quân mỗi năm, nền kinh tế cần huy động khoảng 7,7 triệu tỷ đồng, tương đương 40% GDP danh nghĩa. Trong đó, vốn đầu tư công bình quân khoảng 1,6 triệu tỷ đồng, chưa đến 22% tổng nhu cầu vốn. Khoảng 78% còn lại sẽ phải đến từ khu vực tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hệ thống tài chính, theo tính toán của VIS Ratings.
Trong khi đó, dư nợ tín dụng ngân hàng đến cuối năm 2025 đã tương đương khoảng 146% GDP, thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN. World Bank lưu ý tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh đang làm gia tăng rủi ro đối với hệ thống tài chính, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu duy trì tiêu chuẩn cho vay thận trọng và giám sát chặt chẽ chất lượng tín dụng.
Thực tế này đặt ra giới hạn đối với mô hình tăng trưởng phụ thuộc chủ yếu vào vốn ngân hàng, nhất là khi nền kinh tế cần nguồn vốn dài hạn cho hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics và các dự án đầu tư quy mô lớn.
Ở kênh thị trường chứng khoán, theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán, bao gồm cổ phiếu và trái phiếu, trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 731.600 tỷ đồng, tăng 85,6% so với cùng kỳ năm trước. Dù ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, quy mô huy động này vẫn còn khiêm tốn nếu đặt cạnh nhu cầu vốn khoảng 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm.
TS. Cấn Văn Lực cũng chỉ ra rằng tín dụng ngân hàng đang cung ứng khoảng 51% tổng lượng vốn cho nền kinh tế và có xu hướng tăng thêm. Trong khi đó, nguồn vốn huy động qua thị trường vốn, gồm cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu Chính phủ, mới đáp ứng khoảng 23% nhu cầu vốn.
Một nguồn lực khác là tiền tiết kiệm trong dân cư. Theo TS. Cấn Văn Lực, giai đoạn trước năm 2026, tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam bình quân tương đương khoảng 35% GDP, cao hơn tỷ lệ đầu tư thực tế khoảng 31% GDP, tạo ra khoảng chênh lệch 4 điểm phần trăm GDP. Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm được dự báo giảm về khoảng 33% GDP trong năm 2026, cho thấy dư địa huy động nguồn lực trong nước cũng cần được nhìn nhận thận trọng hơn.
Nợ công còn dư địa, nhưng cần mở rộng cơ sở nhà đầu tư
Trong bối cảnh nhu cầu vốn gia tăng, nợ công Việt Nam vẫn nằm dưới các ngưỡng an toàn được Quốc hội ấn định. Theo ước tính của Chính phủ, đến cuối năm 2025, tỷ lệ nợ công/GDP vào khoảng 35–36%, nợ Chính phủ khoảng 33–34% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 31–32% GDP. So với các mức trần tương ứng khoảng 60%, 50% và 50% GDP trong giai đoạn 2026–2030, các chỉ tiêu này cho thấy Việt Nam vẫn còn dư địa vay nợ.
Ông Nguyễn Quang Thuân, đồng sáng lập, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc FiinGroup, cho rằng nợ công ở mức an toàn tạo điều kiện để Chính phủ cân nhắc tăng vay nợ phục vụ các mục tiêu phát triển. Nguồn vốn có thể được huy động từ thị trường trong nước và thị trường quốc tế.
Đối với thị trường trong nước, Việt Nam đã xây dựng được nền tảng nhất định cho hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên, cơ cấu nhà đầu tư vẫn tập trung chủ yếu vào các ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm và Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong khi sự tham gia của nhà đầu tư quốc tế còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 0,1% dư nợ trái phiếu Chính phủ bằng đồng nội tệ.
Cơ cấu này có một mặt tích cực là giúp duy trì nguồn cầu trong nước tương đối ổn định, qua đó hỗ trợ mặt bằng lãi suất phát hành ở mức thấp. Tuy nhiên, khi Việt Nam muốn mở rộng quy mô thị trường và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, khả năng thu hút dòng vốn mới sẽ trở thành một thách thức.
Ông Thuân cho rằng với lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm khoảng 4% trong thời gian gần đây, thậm chí trước đó chỉ hơn 3%, nhà đầu tư có thể cân nhắc các lựa chọn khác như gửi tiết kiệm ngân hàng nếu mức sinh lời hấp dẫn hơn. Theo đó, Chính phủ cần cân đối đẩy mạnh cải cách thị trường này, mở rộng cơ sở nhà đầu tư và chấp nhận nguyên tắc thị trường để huy động vốn hiệu quả và kiểm soát nợ công.
Ở kênh quốc tế, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến xếp hạng tín nhiệm quốc gia, môi trường tín dụng và mặt bằng lãi suất toàn cầu. Khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 5 năm tính bằng USD tăng lên quanh mức 5%, chi phí huy động vốn quốc tế cũng chịu áp lực.
Không nên chờ lãi suất giảm mới cải cách thị trường vốn
Theo ông Thuân, Việt Nam không nên vì môi trường lãi suất đang cao mà trì hoãn các cải cách cần thiết. Việc cải thiện xếp hạng tín nhiệm và phát triển thị trường vốn phải được nhìn nhận như một chiến lược dài hạn, thay vì chỉ triển khai khi phát sinh nhu cầu huy động vốn trước mắt.
Chứng khoán Maybank (MSVN) nhận định Việt Nam vẫn có thể giảm chi phí vay nước ngoài một cách căn cơ thông qua việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư (Investment Grade), trong bối cảnh lãi suất vay toàn cầu duy trì ở mức cao trong thời gian dài. Theo thống kê các trường hợp nâng hạng trước đây, chi phí vay vốn nước ngoài có thể giảm khoảng 150–250 điểm cơ bản.
Từ đó, MSVN kỳ vọng Chính phủ sẽ đưa việc nâng hạng tín nhiệm quốc gia vào nhóm ưu tiên hàng đầu và đẩy nhanh tiến trình ngay trong năm 2027. Một giải pháp được tổ chức này đề xuất là thành lập ban chuyên trách về nâng hạng tín nhiệm quốc gia, thực hiện một số chức năng tương tự bộ phận quan hệ nhà đầu tư (IR) tại doanh nghiệp, nhằm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về tình hình kinh tế vĩ mô và kế hoạch phát triển của Việt Nam cho các tổ chức xếp hạng tín nhiệm.
Những cải cách này không chỉ nhằm mở rộng khả năng huy động vốn của Chính phủ, mà còn góp phần hoàn thiện thị trường vốn, trong đó thị trường trái phiếu Chính phủ giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành đường cong lãi suất chuẩn và định giá các công cụ nợ khác.
Ông Thuân cho biết các quỹ đầu tư tương hỗ, quỹ quốc gia, quỹ quốc tế và tổ chức tài chính phát triển đều quan tâm đến khả năng Việt Nam hình thành đường cong lãi suất chuẩn đủ tin cậy. Nếu thiếu mức lãi suất tham chiếu đáng tin cậy từ trái phiếu Chính phủ, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chi phí vốn phù hợp với mức độ rủi ro của dự án khi đi huy động vốn quốc tế.
Khi nền tảng này được hoàn thiện, nhà đầu tư quốc tế không chỉ có thể tham gia các đợt phát hành trái phiếu Việt Nam bằng ngoại tệ trên thị trường quốc tế, mà còn có điều kiện đầu tư nhiều hơn vào trái phiếu bằng đồng nội tệ. “Đây cũng là hướng đi được một số quốc gia trong khu vực triển khai. Đối với Việt Nam, thu hút nhà đầu tư quốc tế vào thị trường trái phiếu nội tệ có thể giúp đa dạng hóa nguồn cầu, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào huy động vốn ngoại tệ và những rủi ro liên quan đến biến động tỷ giá”, Chủ tịch FiinGroup nhận định.
Huy động vốn quốc tế cần được đặt trong một chiến lược rộng hơn: phát triển thị trường vốn trong nước, mở rộng cơ sở nhà đầu tư và nâng cao chất lượng tín nhiệm. Khi có thêm nhiều kênh huy động vốn dài hạn với chi phí hợp lý, Việt Nam sẽ giảm bớt áp lực lên hệ thống ngân hàng, đồng thời tạo nguồn lực cho các dự án hạ tầng và động lực tăng trưởng mới. Đây không chỉ là câu chuyện tìm thêm nguồn tiền, mà còn là quá trình xây dựng một cấu trúc tài chính đủ sức đáp ứng tham vọng tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.