Nhập siêu - ‘dấu chân’ của chu kỳ tăng trưởng mới?
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 15:33, 12/10/2026
![]() |
| Xuất siêu trở lại trong tháng 9, nhưng chưa thể đảo chiều cán cân thương mại từ đầu năm - Ảnh: C.Hoan |
Chưa thể đảo chiều cán cân thương mại
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng kim ngạch xuất khẩu tháng 9 đạt 59,48 tỷ USD, nhập khẩu đạt 58,21 tỷ USD, xuất siêu 1,27 tỷ USD. Đây là lần đầu tiên Việt Nam xuất siêu sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, tính từ tháng 12/2025 đến tháng 8/2026. Xuất siêu trở lại, nhưng chưa thể đảo chiều cán cân thương mại từ đầu năm. Trong 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 434,3 tỉ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 453,7 tỉ USD, tăng 36,7%, khiến cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,4 tỉ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu.
Về nguyên nhân nhập siêu, bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng ban Thống kê dịch vụ và giá (Cục Thống kê) phân tích, nhập khẩu tăng chủ yếu ở nhóm hàng phục vụ sản xuất, gia công và đầu tư, đặc biệt là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Trong 9 tháng, nhập khẩu nhóm hàng này đạt 188,9 tỉ USD, tăng 71,7%, chiếm 41,6% tổng kim ngạch nhập khẩu. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 53,9 tỉ USD, tăng 21,9%. Đáng chú ý, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong khi hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%. Điều này cho thấy, nhập khẩu tăng chủ yếu gắn với nhu cầu đầu vào cho sản xuất và đầu tư, chứ không phải do gia tăng nhập khẩu hàng tiêu dùng. Bên cạnh đó, xu hướng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, hạ tầng dữ liệu và công nghệ thông tin cũng có thể góp phần làm tăng nhu cầu nhập khẩu một số thiết bị, linh kiện công nghệ cao.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê cho rằng, nếu nhìn vào cơ cấu hàng hóa nhập khẩu thì có hơn 94% kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất, đạt 426,92 tỷ USD, trong khi hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%, tương đương 26,8 tỷ USD. Điều này cho thấy phần lớn lượng hàng nhập khẩu đang được đưa vào phục vụ sản xuất, gia công và mở rộng năng lực kinh tế. Do đó, không nên đánh giá nhập siêu chỉ dựa trên quy mô tuyệt đối mà cần xem xét cơ cấu hàng nhập khẩu và khả năng chuyển hóa thành sản phẩm xuất khẩu trong các kỳ tiếp theo. Việc nhập khẩu máy móc, thiết bị và linh kiện tăng mạnh có thể hỗ trợ mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực xuất khẩu trong thời gian tới.
Cùng chung nhận định này, theo các chuyên gia, nhập siêu cần được nhìn nhận trong mối quan hệ với chu kỳ đầu tư đang diễn ra. SSI Research sử dụng khái niệm “dấu chân nhập khẩu” để mô tả hiện tượng nhập khẩu tăng nhanh khi nền kinh tế bước vào giai đoạn mở rộng năng lực sản xuất.
Theo cách tiếp cận trên, nhập siêu có thể là chi phí đầu vào của một chu kỳ tăng trưởng mới chứ chưa hẳn phản ánh sự suy giảm năng lực cạnh tranh. Điều cần quan sát không chỉ là tốc độ tăng của nhập khẩu mà là khả năng chuyển hóa lượng máy móc, thiết bị và nguyên liệu đang được nhập về thành công suất mới, sản lượng công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu. Nếu các dự án đầu tư được triển khai đúng tiến độ, dây chuyền nhanh chóng đi vào hoạt động và năng lực sản xuất mới tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, cán cân thương mại hoàn toàn có thể cải thiện trở lại khi xuất khẩu tăng tương ứng. Khi đó, mức nhập siêu hiện nay sẽ được nhìn nhận như khoản đầu tư cho tăng trưởng trong tương lai.
![]() |
| Bài toán cấp thiết đặt ra cho nền kinh tế hiện nay không phải là tăng xuất khẩu, đạt xuất siêu mà là tăng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước trong mỗi sản phẩm xuất khẩu - Ảnh: C.Hoan |
Chuyển hóa để củng cố năng lực nội tại
Ngược lại, nếu nhập khẩu tiếp tục gia tăng nhưng xuất khẩu không cải thiện tương ứng, áp lực đối với cán cân thương mại sẽ lớn hơn. Nhu cầu ngoại tệ để thanh toán nhập khẩu có thể tạo thêm sức ép lên tỷ giá, cán cân thanh toán và việc điều hành chính sách tiền tệ. Đây cũng là lý do Chính phủ tiếp tục theo dõi chặt chẽ các cân đối lớn của nền kinh tế trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng. Do đó, bà Nguyễn Thị Hương khẳng định, mức nhập siêu 19,4 tỉ USD vẫn là vấn đề cần theo dõi.
Không chỉ vậy, bài toán cấp thiết đặt ra cho nền kinh tế hiện nay không phải là tăng xuất khẩu, đạt xuất siêu mà là tăng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước trong mỗi sản phẩm xuất khẩu. Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể sản xuất được nhiều hơn các loại linh kiện, nguyên vật liệu và sản phẩm trung gian, nền kinh tế sẽ giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài, tăng sức chống chịu trước những biến động từ bên ngoài; đồng thời tỷ lệ giá trị được tạo ra và giữ lại trong nước càng cao. Đây cũng là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.
Đà tăng của xuất khẩu chủ yếu đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Một trong những hướng đi quan trọng là thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với khu vực FDI, giúp doanh nghiệp trong nước từng bước trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn thay vì chỉ tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.
Do đó, bà Trương Thị Chí Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) cho rằng, chính sách thu hút FDI cần quan tâm nhiều hơn đến mục tiêu đầu tư, đặc điểm ngành nghề và khả năng tạo ra liên kết với doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ chú trọng quy mô vốn hoặc giá trị xuất khẩu; cần thay đổi cách nhìn nhận về vai trò của hoạt động lắp ráp và sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh trong chuỗi giá trị. Duy trì được các cơ sở sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng tại Việt Nam chính là một trong những điều kiện để từng bước hình thành mạng lưới cung ứng nội địa. Khi doanh nghiệp đảm nhận khâu sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, cơ hội phát triển hệ thống nhà cung cấp linh kiện, vật tư và dịch vụ hỗ trợ cũng được mở rộng hơn.
Không chỉ vậy, TS. Bùi Bá Nghiêm, chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cần tối ưu chi phí logistics để thúc đẩy xuất khẩu. Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 đặt mục tiêu đến năm 2035 đưa chi phí logistics xuống mức tương đương 12 - 15% GDP và Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia, vùng lãnh thổ đứng đầu về Chỉ số Hiệu quả Logistics (LPI). Muốn đạt mục tiêu này, không thể chỉ xây thêm hạ tầng mà phải đồng thời tổ chức lại luồng hàng, kết nối các phương thức vận tải, giảm thời gian chờ, cải cách thủ tục và điều hành bằng dữ liệu.
Đồng thời, cần phát triển nền tảng điều phối logistics dùng chung, kết nối các hệ thống hiện có, không yêu cầu doanh nghiệp báo cáo lại. Dữ liệu phục vụ theo dõi luồng hàng, năng lực cảng và kho, đặt lịch, cảnh báo ùn tắc và xử lý vướng mắc liên ngành. Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần quản trị theo tổng chi phí đến thị trường, chuẩn hóa dữ liệu đơn hàng, kiểm soát tồn kho, lựa chọn điều kiện giao hàng và tuyến thay thế. Doanh nghiệp logistics trong nước cần liên kết cung cấp dịch vụ tích hợp, đầu tư hệ thống quản lý vận tải, kho, nâng năng lực đa phương thức và logistics lạnh… TS. Bùi Bá Nghiêm cho biết.

