Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2026

Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 10:09, 04/09/2026

Năm 2026 có thể vẫn là một năm tăng trưởng cao của kinh tế Việt Nam, thậm chí nổi bật trong khu vực. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành bước khởi đầu cho một quỹ đạo tăng trưởng cao và bền vững trong cả giai đoạn 2026-2030.
Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2026. Ảnh: MXH

Kinh tế Việt Nam đặt mục tiêu tăng tốc trong một thế giới giảm tốc

Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong bối cảnh có cả thuận lợi lẫn không thuận lợi.

Kinh tế thế giới năm 2026 chịu tác động trái chiều của hai diễn biến lớn: (i) Cú sốc năng lượng và xung đột địa chính trị, (ii) Làn sóng đầu tư công nghệ gắn với trí tuệ nhân tạo (AI).

IMF dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt 3,0% năm 2026, thấp hơn mức bình quân 3,5% của giai đoạn 2024-2025, lạm phát toàn cầu tăng lên 4,7% và thương mại toàn cầu giảm tốc từ 5% xuống 3,5% (IMF, 2026). Ngân hàng Thế giới thận trọng hơn khi hạ dự báo toàn cầu xuống 2,5%, mức thấp nhất kể từ đại dịch COVID-19, trên giả định giá dầu bình quân khoảng 94 USD/thùng, và cảnh báo tăng trưởng có thể chỉ còn 1,3% nếu gián đoạn nguồn cung năng lượng kéo dài (World Bank, 2026a).

Đặc biệt, tình hình địa chính trị thế giới tiếp tục diễn biến khó lường làm các tổ chức lớn trên thế giới đã điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 so với các báo cáo trước đây. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Liên hợp quốc (UN) và Fitch Ratings (FR) đồng loạt điều chỉnh giảm 0,2 điểm phần trăm, theo đó, dự báo tăng trưởng cụ thể của IMF là 3,1%, UN là 2,5%, và Fitch Ratings là 2,4%. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới (WB) cũng điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm xuống còn 2,8% (OECD) và 2,5% (WB).

Tình hình đó tạo ra cả thách thức lẫn cơ hội cho tăng trưởng của Việt Nam. Bối cảnh thế giới tác động tới Việt Nam qua bốn kênh: (i) Thương mại, khi với độ mở kinh tế gần 170% GDP, suy giảm cầu thế giới và bất định thuế quan của Hoa Kỳ tác động trực tiếp tới sản xuất, xuất khẩu và đầu tư, (ii) Năng lượng, khi Việt Nam là nước nhập khẩu ròng nên nhạy cảm với giá dầu và gián đoạn nguồn cung từ Trung Đông, (iii) Lãi suất, tỷ giá và dòng vốn, khi lạm phát toàn cầu dai dẳng thu hẹp khả năng nới lỏng tiền tệ của các nền kinh tế lớn, làm tăng chi phí vốn và sức ép tỷ giá, (iv) Chu kỳ công nghệ mới, mặt tích cực nhất, đang tạo thuận lợi cho các nền kinh tế trong chuỗi sản xuất điện tử, bán dẫn châu Á và là lý do IMF nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam thêm 0,4 điểm phần trăm lên 7,5% (IMF, 2026).

Tăng trưởng khá cao nhưng chưa đồng đều trong nửa đầu năm 2026

GDP của Việt Nam sáu tháng đầu năm tăng 8,18%, cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025 và cao nhất kể từ năm 2011. Trước hết, về tốc độ và cơ cấu, GDP quý II tăng 8,39%, cao hơn quý I. Tính chung sáu tháng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, dịch vụ tăng 8,09%, hai khu vực sau đóng góp lần lượt 47,2% và 47,14% vào mức tăng chung, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,8%. Cơ cấu này tích cực vì tăng trưởng lan tỏa thay vì phụ thuộc vào một ngành đơn lẻ.

Đầu tư trở thành một trong những động lực mạnh nhất. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt khoảng 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9%, riêng quý II tăng 14,1%. Nổi bật là khu vực đầu tư nước ngoài: vốn FDI đăng ký đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61%, vốn thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%, bằng chứng về sức hấp dẫn trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, FDI nhiều chưa đồng nghĩa với giá trị gia tăng nội địa cao: thách thức trung hạn, như Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh, là tăng liên kết FDI - doanh nghiệp trong nước để giữ lại nhiều giá trị hơn (World Bank, 2026b).

Xuất khẩu tăng mạnh nhưng nhập khẩu còn mạnh hơn. Xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21%, trong khi nhập khẩu đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4%, khiến cán cân hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD, đảo ngược mức xuất siêu 7,95 tỷ USD của cùng kỳ và chấm dứt gần một thập kỷ xuất siêu liên tục. Không nên đơn giản coi nhập siêu là tiêu cực: khoảng 94% giá trị nhập khẩu là tư liệu sản xuất, phản ánh việc nhập máy móc, nguyên vật liệu chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất tiếp theo, nhất là ở khu vực FDI. Nhưng nó đồng thời bộc lộ mức độ phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu và hạn chế về giá trị gia tăng trong nước.

Tiêu dùng phục hồi nhưng sức cầu thực chưa bứt phá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9% theo giá hiện hành nhưng chỉ tăng khoảng 7,3% nếu loại trừ yếu tố giá, khách quốc tế đạt 12,25 triệu lượt, tăng 14,9%. Tiêu dùng đã là trụ đỡ tốt hơn, song chưa thể một mình kéo tăng trưởng từ 8,18% lên hai con số.

Cuối cùng, cần đặt cạnh các thành tích một số tín hiệu cảnh báo. Một là, CPI bình quân tăng 4,38%, lạm phát cơ bản tăng 4,12%, riêng quý II CPI tăng 5,25%, trong khi giá nguyên, nhiên, vật liệu cho sản xuất tăng 5,4% - dư địa dưới trần 4,5% gần như đã cạn. Hai là, chuỗi tác động nhập siêu - tỷ giá - dự trữ ngoại hối đang hình thành: nhu cầu ngoại tệ tăng cao cộng với đồng USD mạnh buộc Ngân hàng Nhà nước phải bán ngoại tệ kỳ hạn để ổn định thị trường, trong khi dự trữ ngoại hối ước chỉ còn tương đương khoảng hai tháng nhập khẩu. Ba là, tín dụng đến cuối tháng 6 tăng 7,41%, thấp hơn mức 8,3% của cùng kỳ, huy động vốn chỉ tăng 5,02%. Bốn là, gần 24 nghìn doanh nghiệp giải thể, gấp khoảng 1,9 lần cùng kỳ, cho thấy sức khỏe một bộ phận doanh nghiệp trong nước còn yếu.

Bức tranh nửa đầu năm vì vậy là tăng trưởng cao nhưng chưa đồng đều: khu vực sản xuất hướng xuất khẩu, FDI và đầu tư tăng mạnh hơn đáng kể so với sức cầu thực của hộ gia đình và khả năng phục hồi của doanh nghiệp trong nước.

Các tổ chức quốc tế nhìn nhận triển vọng của Việt Nam

Các dự báo cập nhật trong năm 2026 của những định chế quốc tế lớn được tổng hợp ở Bảng 1.

Điểm lưu ý là các con số cập nhật đều cao hơn cho thấy các tổ chức quốc tế liên tục đánh giá về Việt Nam là có triển vọng tốt.

Triển vọng năm 2026

Bốn động lực có thể tiếp tục nâng tốc độ tăng trưởng trong nửa cuối năm. Một là đầu tư công và hạ tầng: kế hoạch vốn năm 2026 khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 31%, và nếu giải ngân đạt 100% kế hoạch, một số tính toán cho thấy tăng trưởng có thể được cộng thêm khoảng 1,8 điểm phần trăm nhờ lan tỏa sang xây dựng, vật liệu, logistics và đầu tư tư nhân.

Hai là FDI và chu kỳ công nghệ: cầu điện tử, bán dẫn và hạ tầng AI toàn cầu đang thuận lợi, vốn đăng ký tăng 61% sẽ chuyển hóa dần thành vốn thực hiện. Ba là xuất khẩu và du lịch tiếp tục tăng cao hơn tốc độ mục tiêu. Bốn là cải cách thể chế và khu vực tư nhân: nếu phân cấp phân quyền, vận hành chính quyền địa phương hai cấp và tháo gỡ dự án tồn đọng thực sự chuyển hóa thành đầu tư mới, đây có thể là động lực quan trọng hơn cả các gói kích thích ngắn hạn.

Tuy vậy, mục tiêu 10% đặt ra yêu cầu rất cao. Tại Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026, Chính phủ cập nhật kịch bản điều hành: để cả năm tăng từ 10% trở lên, GDP sáu tháng cuối năm phải tăng 11,9%, với mục tiêu ngành rất cao như sản xuất điện 16,9%, xây dựng 17,6%, lưu trú - ăn uống 17,3%, và các địa phương đầu tàu như Thành phố Hồ Chí Minh 10,2%, Hà Nội 11%, Hải Phòng và Quảng Ninh 13%. Vì vậy, vấn đề không phải là duy trì tốc độ hiện có, mà còn là tăng tốc thêm gần bốn điểm phần trăm, mức chưa từng có trong một giai đoạn sáu tháng nào, giữa lúc kinh tế toàn cầu giảm tốc.

Bốn nhóm rủi ro lớn cần được tính đến: (i) Giá năng lượng và xung đột địa chính trị tiếp tục gây áp lực lên lạm phát và chi phí sản xuất, (ii) Chính sách thương mại của các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ, có thể ảnh hưởng tới xuất khẩu, FDI và chuỗi cung ứng, kể cả qua các quy định về xuất xứ, (iii) Dư địa tiền tệ hạn hẹp khi CPI đã sát mục tiêu 4,5%, kích thích tín dụng quá mạnh có thể tạo rủi ro tỷ giá, giá tài sản và nợ xấu, (iv) Năng lực hấp thụ đầu tư, bởi tăng vốn chưa chắc thành tăng trưởng nếu giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục kéo dài hoặc chất lượng dự án thấp.

Tổng hợp lại, có thể hình dung ba kịch bản cho cả năm 2026: (i) Kịch bản cơ sở khoảng 8-8,5% nếu các động lực hiện hữu được duy trì và giải ngân đầu tư công đạt kế hoạch, (ii) Kịch bản cao 9-10% nếu chu kỳ công nghệ tiếp tục bùng nổ, xung đột Trung Đông hạ nhiệt và các dự án hạ tầng, dự án tồn đọng được khơi thông mạnh, (iii) Kịch bản thận trọng 7-7,5% nếu giá dầu neo cao, thương mại toàn cầu suy yếu sâu hơn và áp lực tỷ giá buộc phải thắt chặt chính sách.

Theo đó, Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng hàng đầu khu vực, còn mục tiêu 10% nên được xem là kịch bản tham vọng, đòi hỏi sự tăng tốc đồng thời của hầu hết các động lực trong nước và một môi trường quốc tế không xấu đi đáng kể.

Chính sách cho nửa cuối năm: tăng trưởng cao nhưng không đánh đổi ổn định vĩ mô và không coi nhẹ những yếu tố nền tảng

Từ các phân tích trên, có thể đề xuất năm ưu tiên chính sách. Thứ nhất, lấy chính sách tài khóa và đầu tư công làm động lực chủ đạo thay vì dựa quá nhiều vào tín dụng. Với nợ công khoảng 31,5% GDP, thấp xa mức trần 60%, dư địa tài khóa còn đáng kể (OECD, 2026), trong khi dư địa tiền tệ đã rất hẹp. Cần đẩy nhanh các dự án có khả năng hoàn thành và giải ngân thực chất, nhất là giao thông, năng lượng và hạ tầng số, tránh chạy theo tỷ lệ giải ngân bằng mọi giá.

Thứ hai, chính sách tiền tệ phải giữ đồng thời hai mục tiêu: hỗ trợ sản xuất nhưng kiểm soát lạm phát, tỷ giá và rủi ro tài chính. Mức CPI bình quân 4,38% của sáu tháng cho thấy không còn nhiều không gian cho một đợt kích thích tiền tệ diện rộng, phù hợp với khuyến nghị của OECD về việc sẵn sàng thu lại hỗ trợ khi rủi ro lạm phát gia tăng.

Thứ ba, quản trị chủ động cán cân thanh toán. Chuỗi nhập siêu - tỷ giá - dự trữ ngoại hối là ràng buộc vĩ mô cứng nhất của nửa cuối năm: cần theo dõi sát cơ cấu nhập khẩu, điều hành tỷ giá linh hoạt, củng cố dự trữ ngoại hối và chuẩn bị phương án ứng phó với biến động dòng vốn. Đây là “van an toàn” quyết định chính sách nới lỏng có thể duy trì được đến đâu.

Thứ tư, biến xuất khẩu và FDI thành giá trị gia tăng trong nước: nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và phát triển nhân lực công nghệ. Đây cũng là điểm Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh như điều kiện để duy trì đà tăng trưởng trong trung hạn.

Thứ năm, củng cố khu vực tư nhân và tiêu dùng trong nước, coi năng lượng và logistics là điều kiện tiên quyết. Cần giải quyết các vấn đề dòng tiền, thủ tục, tiếp cận đất đai và tín dụng của doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị, bởi tăng trưởng hai con số khó bền vững nếu doanh nghiệp nội địa còn yếu. Khi công nghiệp được đặt mục tiêu tăng 12-14%, cung ứng điện, nhiên liệu, vận tải và logistics phải đi trước một bước như yêu cầu tại Nghị quyết 01/NQ-CP.

Năm 2026 có thể vẫn là một năm tăng trưởng cao của kinh tế Việt Nam, thậm chí nổi bật trong khu vực. Nhưng phép thử thực sự không chỉ nằm ở việc GDP cuối năm đạt 8%, 9% hay 10%. Quan trọng hơn là liệu quá trình tăng tốc có đồng thời nâng được năng suất, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, chất lượng đầu tư và khả năng chống chịu của nền kinh tế hay không. Mục tiêu tăng trưởng hai con số chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành bước khởi đầu cho một quỹ đạo tăng trưởng cao và bền vững trong cả giai đoạn 2026-2030, chứ không phải thành tích của riêng một năm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ADB (2026), Asian Development Outlook, April 2026 và bản cập nhật tháng 7/2026, Asian Development Bank, Manila.

2. Chính phủ (2026a), Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, Hà Nội.

3. Chính phủ (2026b), Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 về cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại của năm 2026, Hà Nội.

4. Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, công bố ngày 3/7/2026, Hà Nội.

5. Đặng Xuân Thanh (2026), “Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2026: Điểm sáng vĩ mô và 5 nhóm thách thức cốt lõi”, VnEconomy, ngày 9/7/2026.

6. IMF (2026), World Economic Outlook Update, July 2026: Global Economy in Crosscurrents of War and Technology, International Monetary Fund, Washington, D.C.

7. OECD (2026), OECD Economic Outlook, Volume 2026 Issue 1, chương Viet Nam, OECD Publishing, Paris.

8. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13/11/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, Hà Nội.

9. World Bank (2026a), Global Economic Prospects, June 2026, World Bank Group, Washington, D.C.

10. World Bank (2026b), Taking Stock: Viet Nam Economic Update, May 2026 - Sustaining Reforms, Navigating Uncertainty, World Bank, Hà Nội.

(*) PGS.TS Bùi Quang Tuấn – Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

PGS-TS. BÙI QUANG TUẤN (*)