FDI phải tạo giá trị gia tăng cao hơn cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 11:20, 21/08/2026

Sau hơn 35 năm thu hút FDI, khu vực này đã góp phần đưa Việt Nam hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng liên kết với doanh nghiệp trong nước và giá trị gia tăng tạo ra vẫn chưa tương xứng. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển từ “thu hút” sang “lựa chọn” FDI, ưu tiên các dự án công nghệ cao, tạo liên kết và gia tăng giá trị do người Việt Nam tạo ra.

FDI giúp đưa “Made in Vietnam” ra thế giới

Thưa bà, nhìn lại hơn 35 năm thu hút FDI, bà đánh giá đâu là đóng góp lớn nhất của khu vực này đối với Việt Nam? Và vì sao đến nay liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước vẫn chưa như kỳ vọng?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ đóng góp của doanh nghiệp FDI vào Việt Nam trong suốt những năm vừa qua thực sự rất đáng quý. Không có họ, chúng ta khó có được vị thế của Việt Nam như ngày nay, và các doanh nghiệp trong nước cũng khó phát triển được như hiện tại.

Đóng góp quan trọng nhất của FDI là giúp kết nối thị trường Việt Nam với thị trường quốc tế. Vào thời điểm chúng ta mới mở cửa, còn bị bao vây, cấm vận và cô lập, nếu không có các nhà đầu tư nước ngoài đưa cái tên “Made in Vietnam” ra bên ngoài thì rất khó để thế giới chấp nhận hàng hóa Việt Nam. Dù chỉ làm gia công, những lô hàng dệt may, giày dép... đầu tiên của ta đi ra được thị trường thế giới hầu hết là nhờ FDI.

Sau này thì những sản phẩm như điện thoại Samsung đã góp phần ghi tên Việt Nam trong thương mại thế giới trong lĩnh vực sản phẩm công nghệ cao.

FDI cũng tạo ra sức ép cạnh tranh và những bài học thực tế để một số doanh nghiệp nhà nước và nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam học hỏi cách làm, cách tổ chức sản xuất hay xuất khẩu. Đó cũng là một quá trình học hỏi gián tiếp mà hiệu quả.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Ảnh: DT

FDI còn đóng góp đáng kể vào tạo công ăn việc làm, sản xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu, các sản phẩm xuất khẩu, tạo sự phát triển một số ngành công nghiệp, dịch vụ, góp phần cho tăng trưởng kinh tế và thu nhập ở nước ta. Vai trò của FDI trong kinh tế nước ta lớn hơn hẳn so với Trung Quốc và một số nước đang phát triển khác.

Tuy nhiên, phải thừa nhận là tác động lan tỏa của FDI đối với kinh tế trong nước chưa được như mong muốn. Nền kinh tế trong nước và khu vực FDI nhiều lúc vẫn đi theo hai đường song song, lệch nhau khá nhiều, như “hai nền kinh tế trong một quốc gia”. Chuyển giao công nghệ thì gần như không có gì.

Một vấn đề nữa là sự liên kết giữa FDI với các doanh nghiệp Việt thông qua sử dụng công nghiệp và dịch vụ phụ trợ của chúng ta còn quá yếu. Các doanh nghiệp FDI thường mang theo chuỗi cung ứng của họ vào Việt Nam, hoặc mua hàng từ bên ngoài, hoặc mua hàng của nhau, còn tỷ lệ mua hàng Việt tại chỗ rất thấp.

Điều này cũng không thể chỉ trách nhà đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp phụ trợ của ta cần không gian và điều kiện để phát triển, trong khi chính chúng ta thiếu hẳn nhận thức, sự quan tâm và hệ thống chính sách khuyến khích cần thiết cho các ngành này của mình. Chỉ riêng về chính sách thôi, doanh nghiệp Việt đã không cạnh tranh được với các doanh nghiệp phụ trợ do FDI mang vào, khi họ được hưởng ưu đãi dành cho FDI, còn doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn bị phân biệt đối xử. Việt Nam lại nằm cạnh Trung Quốc - một thị trường phụ trợ quá lớn và có sức cạnh tranh rất mạnh. Một số nhà cung ứng khác như ASEAN, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Công cũng vượt ta từ trước trên nhiều mặt.

Không chỉ thu hút FDI, mà phải lựa chọn FDI

Nghị quyết 10-NQ/TWđặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ chính sách thu hút FDI, theo hướng ưu tiên công nghệ cao, tăng chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Theo bà, đây có phải là lúc Việt Nam phải chuyển hẳn từ “thu hút FDI” sang “lựa chọn FDI”? Và lựa chọn thế nào để giá trị gia tăng thực sự ở lại Việt Nam?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi rất tán thành cách tiếp cận mới trong Nghị quyết 10-NQ/TW. Chúng ta vẫn khẳng định vai trò quan trọng của FDI, vẫn chào mời họ nhưng đồng thời phải có quyền lựa chọn.

Thứ nhất, nhà đầu tư vào Việt Nam phải mang theo công nghệ mới, công nghệ tiên tiến. Chúng ta không thể tiếp tục nhận những ngành giá rẻ, kỹ năng thấp hoặc công nghệ lạc hậu. Nếu không đáp ứng yêu cầu thì chúng ta phải có quyền từ chối.

Thứ hai, phải yêu cầu nhà đầu tư hợp tác với doanh nghiệp trong nước và chuyển giao công nghệ. Trước đây, nhiều khi nhà đầu tư cam kết nhưng không thực hiện đầy đủ mà vẫn được hưởng ưu đãi. Bây giờ cần làm rõ hơn: chỉ khi nào thực hiện được việc chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp Việt như cam kết thì mới được hưởng ưu đãi.

Cùng với đó phải có những chỉ số đo lường rõ ràng. Nếu không đạt yêu cầu thì ưu đãi phải được dừng lại.

Thứ ba, chính sách cũng phải khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp nhận công nghệ, trở thành doanh nghiệp liên kết, cung ứng, phụ trợ cho các tập đoàn nước ngoài.

Cuối cùng, điều chúng ta hướng tới là giá trị gia tăng được tạo ra ở Việt Nam phải cao lên. Mức giá trị gia tăng trong công nghiệp chế biến chế tạo (MVA - Manufacturing Value Added) kể cả của FDI ở nước ta hiện nay quá thấp, chỉ khoảng 10% (so với 26% của Philippines là nước ASEAN đứng sát trên Việt Nam). Sản phẩm “Made in Vietnam” mà FDI chiếm tới 75% tổng kim ngạch xuất khẩu phải có phần đóng góp thực sự của người Việt Nam nhiều hơn.

Đó mới là ý nghĩa của việc thu hút FDI trong giai đoạn mới. Không thể chỉ nhìn vào số vốn đăng ký hay số dự án thu hút được, mà phải xem những dự án đó giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển bằng công nghệ và kỹ năng cao hơn, nâng vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu lên như thế nào.

Thu hút FDI công nghệ cao phải có cả một hệ sinh thái

Nhưng để thực hiện được những yêu cầu mới của Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần thay đổi điều gì trong chính mình? Bà lo nhất vấn đề nguồn nhân lực, năng lực của bộ máy hay thiếu một hệ sinh thái đủ sức đáp ứng các nhà đầu tư công nghệ cao?

Bà Phạm Chi Lan: Điều tôi lo nhất là chúng ta thực hiện được đến đâu.

Ví dụ, muốn thu hút đầu tư vào những lĩnh vực công nghệ cao mới như bán dẫn thì đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao rất lớn, và toàn bộ hệ thống điện, nước, vệ sinh môi trường, logistics và các dịch vụ xung quanh đáp ứng được tiêu chuẩn nghiêm ngặt của nhà đầu tư.

Một số trường đại học đã mở ngành đào tạo nhân lực bán dẫn và đặt mục tiêu trong vài năm tới có hàng nghìn kỹ sư. Nhưng chất lượng đào tạo ra sao, kết quả thế nào thì phải theo dõi và đốc thúc.

TPHCM xây dựng Trung tâm Phát triển Công nghệ Chiến lược tại Khu Công nghệ cao. Ảnh VRG

Giáo dục đào tạo cần được nhìn nhận một cách toàn diện. Chúng ta không chỉ cần vài nghìn kỹ sư bán dẫn, mà cần thay đổi cả lực lượng lao động trong toàn xã hội. Tương lai phát triển của đất nước cũng như công ăn việc làm, thu nhập của mỗi người sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng học suốt đời, không ngừng trau dồi kỹ năng, sẵn sàng thích ứng với những thay đổi.

Và chúng ta cũng không thể chỉ đào tạo kỹ sư để đi làm thuê. Cần đào tạo những nhà quản trị, những tổng công trình sư có khả năng làm chủ các khâu khác nhau trong các ngành nghề của nước nhà cũng như khi “go global”, đi ra thế giới.

Một vấn đề nữa là con người và bộ máy. Những cán bộ thiết kế và thực thi chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp có hiểu được yêu cầu cụ thể để có một hệ sinh thái tốt cho những công nghệ hoặc lĩnh vực mới hay không? Nếu không hiểu thì họ sẽ không biết làm, không dám quyết. Khi các yêu cầu bị giải quyết chậm, nhà đầu tư sẽ gặp khó khăn, thậm chí sẽ bỏ đi.

Việc thu hút nhân tài người Việt Nam ở nước ngoài về nước cũng là một yêu cầu quan trọng cho phát triển công nghệ cao cả của chính ta và của FDI. Trả lương cao thôi chưa đủ. Họ phải có cả một hệ sinh thái làm việc, một môi trường chuyên nghiệp và quyền quyết định cần thiết để phát huy năng lực.

Đối với những ngành công nghệ cao, đây là thị trường cạnh tranh toàn cầu, nhà đầu tư có rất nhiều lựa chọn chứ không chỉ có Việt Nam.

Vì vậy, thu hút được họ đã khó, giữ chân được họ còn khó hơn. Muốn làm được điều đó, Việt Nam phải xây dựng được hệ sinh thái thực sự đồng bộ, toàn diện và bền vững.

Xin trân trọng cảm ơn bà!

THANH THANH