Nhận diện điểm nghẽn để tăng tốc nửa cuối năm
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 14:56, 17/07/2026
Tăng trưởng chưa lan tỏa đều
GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18%, cùng nhiều kết quả tích cực về sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, thu ngân sách và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, các chỉ số tổng hợp chưa phản ánh đầy đủ mức độ lan tỏa của tăng trưởng, nhất là khi sức cầu trong nước, năng lực doanh nghiệp nội địa và tiến độ chuyển nguồn lực thành năng lực sản xuất mới vẫn chưa theo kịp yêu cầu.
Phát biểu tại Hội thảo khoa học “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển” ngày 9/7, TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho rằng phía sau những kết quả tích cực vẫn còn nhiều vấn đề cần được phân tích khách quan, toàn diện, từ áp lực lạm phát, biến động tỷ giá, xu hướng nhập siêu, sức khỏe doanh nghiệp, khả năng hấp thụ vốn đến hiệu quả đầu tư công và các cân đối lớn của nền kinh tế.
Điểm dễ nhận thấy là sự phục hồi chưa đồng đều giữa các ngành, địa phương và khu vực doanh nghiệp. Một số ngành sử dụng nhiều lao động và các dịch vụ gắn trực tiếp với việc làm, thu nhập, sức mua vẫn còn khó khăn. Sức cầu trong nước dù đã cải thiện nhưng chưa thực sự trở thành động lực đủ mạnh, cho thấy thu nhập và niềm tin tiêu dùng của một bộ phận người dân chưa phục hồi tương xứng với tốc độ tăng trưởng chung. Kết quả 6 tháng cũng cho thấy, nhiều địa phương còn cách xa mục tiêu tăng trưởng GRDP và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.
Bức tranh doanh nghiệp cũng cho thấy hai chiều đan xen. Trong 6 tháng đầu năm, cả nước có hơn 169.800 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 11,2% so với cùng kỳ; bình quân mỗi tháng có 28.300 doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường. Tuy nhiên, cùng thời gian này cũng có bình quân 25.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường mỗi tháng. Đáng chú ý, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm 5,5%, trong khi số hoàn tất thủ tục giải thể tăng 94,7% so với cùng kỳ. Điều đó cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện, nhưng sức khỏe của một bộ phận doanh nghiệp vẫn yếu. Vấn đề vì thế không chỉ nằm ở vốn. Nhiều doanh nghiệp còn thiếu đơn hàng, thị trường, năng lực quản trị và phương án đầu tư đủ khả thi để mở rộng sản xuất. Khu vực doanh nghiệp trong nước tiếp tục hạn chế về quy mô, công nghệ và mức độ tham gia chuỗi cung ứng; trong khi động lực xuất khẩu chủ yếu vẫn đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
![]() |
| Dư địa tăng trưởng trong thời gian tới sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiếp tục cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và phát huy vai trò của các động lực tăng trưởng mới |
Dư địa điều hành không còn rộng
Bởi vậy, vấn đề của nửa cuối năm không chỉ là bổ sung động lực, mà còn phải tháo gỡ những điểm nghẽn đang làm giảm hiệu quả của các nguồn lực hiện có. Theo các chuyên gia, dư địa tăng trưởng trong thời gian tới sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiếp tục cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và phát huy vai trò của các động lực tăng trưởng mới.
Một thách thức khác là yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng cao trong khi dư địa điều hành vĩ mô hạn hẹp hơn. Nửa cuối năm, tổng cầu cần được củng cố, trong khi kinh tế thế giới vẫn đối mặt với rủi ro địa chính trị, biến động giá năng lượng và bất định thương mại. Áp lực giá cả trong nước cũng rõ hơn, đòi hỏi phối hợp chính sách chặt chẽ hơn.
TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, lưu ý diễn biến CPI đã có tín hiệu cần được theo dõi chặt chẽ. Bốn nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông, giáo dục chiếm phần lớn mức tăng CPI trong 6 tháng đầu năm. Đáng chú ý, các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý giá như điện, nước, y tế, giáo dục có mức đóng góp đáng kể; vì vậy, lộ trình, liều lượng và thời điểm điều chỉnh cần được cân nhắc thận trọng, tránh tạo hiệu ứng cộng hưởng trong lúc các giải pháp hỗ trợ tăng trưởng đang được triển khai.
Tăng trưởng và ổn định vĩ mô vì thế không thể được xử lý tách biệt. Nếu các chính sách hỗ trợ được thúc đẩy mạnh trong khi giá dịch vụ công điều chỉnh dồn dập, áp lực có thể xuất hiện lên lạm phát, chi phí sản xuất và sức mua. Bài toán không phải là lựa chọn giữa tăng trưởng và ổn định, mà là nâng chất lượng điều hành. Đặt trong bối cảnh các áp lực lớn từ bên ngoài hiện nay, các chuyên gia cho rằng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát và giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong đó, chính sách tài khóa cần phát huy vai trò chủ lực thông qua đẩy nhanh đầu tư công, giảm chi phí cho doanh nghiệp và ưu tiên nguồn lực cho hạ tầng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, việc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cần được phân kỳ hợp lý, đặt trong tổng thể kịch bản tăng trưởng, lạm phát và tác động tới người dân, doanh nghiệp.
Những hạn chế về sức cầu hay dư địa chính sách sẽ khó được xử lý nếu năng lực tổ chức thực hiện không được cải thiện. Chẳng hạn, trong lĩnh vực đầu tư công, việc giải ngân chậm, dự án kéo dài, đất đai và tài sản bị “đóng băng” không chỉ làm mất cơ hội tăng trưởng trước mắt mà còn kéo giảm hiệu quả chung của nền kinh tế.
Thực tế đến nay, nhiều dự án vẫn vướng quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng, vật liệu, thủ tục... Trong hơn 4.400 dự án được rà soát, mới có khoảng 1/3 được tháo gỡ dứt điểm. Tương tự như vậy, việc xử lý dự án tồn đọng không thể dừng ở phương án trên giấy, mà phải đưa đất đai, tài sản và vốn trở lại hoạt động, tạo nguồn thu, việc làm và năng lực sản xuất mới. Vướng mắc vượt thẩm quyền cần được báo cáo kịp thời kèm phương án cụ thể, phân loại rõ nguyên nhân, xác định rõ thời hạn hoàn thành và trách nhiệm người đứng đầu, thay vì chỉ nêu khó khăn rồi chờ hướng dẫn.
Năng lực thực thi còn thể hiện ở việc chính sách đến đúng đối tượng, đúng thời điểm và bám sát tình hình thực tế. Mỗi nhiệm vụ cần gắn với người chịu trách nhiệm, tiến độ và sản phẩm đầu ra cụ thể; việc công khai kết quả, tăng kiểm tra và đánh giá bằng hiệu quả thực chất sẽ góp phần hạn chế trì hoãn, đùn đẩy.
Mục tiêu tăng trưởng cao sẽ khó đạt được một cách bền vững nếu chỉ dựa vào việc mở rộng nguồn lực. Do đó, cần tập trung vào những nút thắt có khả năng giải phóng nguồn lực nhanh nhất: xử lý dứt điểm dự án tồn đọng, đẩy nhanh đầu tư công, củng cố sức cầu và nâng năng lực doanh nghiệp trong nước.
| Thực thi đang là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” Tới dự và phát biểu chỉ đạo tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được trong 6 tháng đầu năm, còn nhiều hạn chế, khó khăn và thách thức lớn như tăng trưởng chưa đạt mục tiêu, chưa lan tỏa đồng đều; đầu tư công, nhiều dự án trọng điểm còn chậm; sức cầu và khả năng chuyển đầu tư thành năng lực sản xuất mới chưa đáp ứng yêu cầu. “Trong khi đó, dư địa điều hành vĩ mô đang thu hẹp, nếu điều hành không chặt chẽ, áp lực lạm phát, tỷ giá, lãi suất và thanh khoản có thể xuất hiện đồng thời”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý. Tổng Bí thư nhấn mạnh, trong giai đoạn hiện nay, thể chế không còn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”; thực thi nhiệm vụ và tổ chức triển khai mới đang là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Vì vậy, Chính phủ cần tổ chức một chương trình hành động đặc biệt cho 6 tháng cuối năm với tinh thần rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả và rõ cơ chế kiểm tra. Theo đó, cần tập trung tháo gỡ ngay các điểm nghẽn để thúc đẩy tăng trưởng ít nhất 10%, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô. Khẩn trương xử lý các dự án chậm, công trình ách tắc, đất đai bỏ hoang và nguồn lực đình trệ do thủ tục, quy hoạch, mặt bằng, vật liệu hoặc né tránh trách nhiệm. Khơi thông các động lực tăng trưởng truyền thống và tạo đột phá ở các động lực tăng trưởng mới. Điều hành đồng bộ chính sách tài khóa, tiền tệ, giá cả. Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo những việc lớn, việc khó, việc liên ngành và các điểm nghẽn kéo dài. Chấm dứt tình trạng nêu khó khăn nhưng không có phương án xử lý; việc thuộc thẩm quyền cấp nào thì cấp đó phải giải quyết, vượt thẩm quyền phải báo cáo kịp thời, kèm đề xuất cụ thể. |
