Từ thu hút FDI đến kiến tạo động lực tăng trưởng hai con số
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 15:23, 15/07/2026
![]() |
| Vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng tích cực cả về quy mô vốn và cơ cấu đầu tư. Trong ảnh: Nhà máy sản xuất linh kiện đèn led của Daikan (Nhật Bản) tại Khu công nghiệp Amata (Đồng Nai). Ảnh: Lê Toàn |
Từ “thu hút” sang “khai thác”
Bất chấp sự chững lại của dòng đầu tư toàn cầu, Việt Nam vẫn tiếp tục thành công trong thu hút FDI. Thậm chí, 6 tháng, nguồn FDI vào Việt Nam tăng rất mạnh, với 34,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 61% và gần 13,03 tỷ USD vốn thực hiện, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Việc một nguồn lực lớn vốn FDI đổ vào Việt Nam trong nửa đầu năm 2026 được Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định là một “điểm sáng” của nền kinh tế. Còn Ngân hàng UOB, trong báo cáo về kinh tế Việt Nam vừa được công bố, đã nhấn mạnh về triển vọng duy trì tích cực của dòng vốn FDI đang đổ vào Việt Nam.
“Điều này cho thấy, nguồn vốn FDI dự kiến giải ngân trong thời gian tới vẫn rất khả quan, đồng thời củng cố triển vọng năm 2026 có thể trở thành năm kỷ lục về thu hút FDI của Việt Nam”, Ngân hàng UOB nhận định.
Tính theo từng năm, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam những năm gần đây chưa bao giờ vượt con số 40 tỷ USD. Năm 2021, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 38,85 tỷ USD, còn con số của năm 2025 là 38,42 tỷ USD. Đây đều được coi là những con số kỷ lục.
Thực tế, năm 2008, Việt Nam đã thu hút tới gần 72 tỷ USD vốn FDI đăng ký và vào thời điểm đó, con số này được coi là một thành tựu lớn. Tuy nhiên thực tế, nhiều dự án quy mô lớn được cấp phép trong năm này bị coi là “vốn ảo”, sau đó bị thu hồi. Đáng chú ý trong số đó là Dự án Thép Cà Ná, vốn đầu tư 9,8 tỷ USD; Dự án New City, 4,3 tỷ USD… Vì vậy, trong năm này, dù vốn đăng ký tăng “nóng” như vậy, nhưng thực tế, vốn giải ngân chỉ đạt 11,5 tỷ USD.
Những “giá trị vô hình” mà nguồn lực đầu tư vào Trung tâm Tài chính quốc tế mang lại đã được ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch UBND TP.HCM nhắc đến. Đó là công nghệ tài chính, năng lực quản trị tiên tiến, chuẩn mực minh bạch quốc tế, hệ thống dữ liệu, mạng lưới chuyên gia và khả năng kết nối các chuỗi giá trị toàn cầu… “Đây mới là nguồn lực có ý nghĩa quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn”, ông Nguyễn Văn Được nói.
Trong khi đó, 6 tháng đầu năm nay, riêng vốn FDI đăng ký đã đạt 34,6 tỷ USD, còn vốn giải ngân trên 13 tỷ USD. Đặc biệt, nếu tính theo tháng, thu hút FDI trong tháng 6/2026 có thể coi là đạt mức cao nhất kể từ trước tới nay. Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), đã có 9,7 tỷ USD vốn đăng ký vào Việt Nam trong tháng này, trong đó vốn đăng ký mới đạt trên 2,5 tỷ USD, vốn tăng thêm 5,2 tỷ USD, còn vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần đạt 2 tỷ USD.
Mức tăng mạnh của riêng tháng 6/2026 đã góp phần quan trọng đưa cả vốn đăng ký mới, vốn tăng thêm và vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần trong 6 tháng đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, vốn đăng ký mới đạt 17,39 tỷ USD, tăng 87,2%; vốn tăng thêm đạt 11,04 tỷ USD, tăng 23,5%; vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần đạt 6,22 tỷ USD, tăng 89,5%.
Việc vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng tích cực cả về quy mô vốn và cơ cấu đầu tư được Cục Đầu tư nước ngoài nhận định là “phản ánh niềm tin của nhà đầu tư” đối với môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Đây là kết quả rất đáng ghi nhận và nhiều khả năng, một kỷ lục mới sẽ được thiết lập.
Tuy vậy, sau khi Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Bộ Chính trị ban hành, thì câu chuyện với nền kinh tế Việt Nam hiện nay không còn là thu hút được bao nhiêu vốn, mà là làm sao khai thác được giá trị của đồng vốn này. “Điều Việt Nam cần hiện nay là dòng vốn chất lượng cao đi cùng công nghệ, kỹ năng quản trị, kinh nghiệm vận hành và khả năng kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu”, bà Bùi Thu Thủy, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài nói.
Cùng quan điểm, ông Sử Ngọc Khương, Giám đốc cấp cao Bộ phận Tư vấn đầu tư Savills Việt Nam cho rằng, trong giai đoạn tới, câu hỏi không còn là Việt Nam thu hút được bao nhiêu vốn FDI, mà là thu hút được bao nhiêu công nghệ, bao nhiêu tri thức và bao nhiêu giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
“Đây là lần đầu tiên định hướng phát triển khu vực FDI được đặt trong bối cảnh nâng cao năng suất quốc gia và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Điều này phản ánh quyết tâm đưa Việt Nam vượt lên khỏi vai trò là điểm đến sản xuất truyền thống để trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và phân bổ nguồn lực chiến lược của khu vực”, ông Sử Ngọc Khương bình luận.
Bài toán là tạo động lực cho tăng trưởng hai con số
Có một điều đáng chú ý trong bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026, theo lời của Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương, là mặc dù động lực tăng trưởng được hình thành trên cơ sở cả ba khu vực của nền kinh tế đều duy trì đà tăng tích cực, nhưng động lực lớn nhất vẫn đến từ khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo.
Điều quan trọng hơn là, động lực này đã có sự chuyển dịch rõ ràng sang các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Động lực này cũng gắn chặt với quá trình mở rộng năng lực sản xuất, khi mà một loạt dự án đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, thiết bị công nghệ cao đi vào hoạt động hoặc mở rộng hoạt động.
Trong báo cáo trình Chính phủ, Bộ Tài chính đã nhắc đến loạt dự án FDI trong các lĩnh vực nói trên ở các địa phương như Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Đồng Nai và TP.HCM. Khu vực FDI rõ ràng đang góp phần quan trọng tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Nhưng kỳ vọng lớn hơn đang được đặt ra. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, thu hút FDI không phải để “thay thế nội lực”, mà là để “làm mạnh nội lực”, nâng cao tự chủ; và không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Cũng bởi vậy, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đặt ra vấn đề chuyển trọng tâm từ thu hút vốn sang thu hút các nguồn lực tạo ra năng suất dài hạn cho nền kinh tế. Danh mục các lĩnh vực ưu tiên sẽ bao gồm bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng, logistics hiện đại và nhiều ngành công nghệ cao khác. Đồng thời, Việt Nam đặt mục tiêu thu hút các trung tâm R&D, trung tâm dữ liệu, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm điều hành khu vực và các dịch vụ dùng chung của các tập đoàn đa quốc gia…
“Định hướng này phản ánh tham vọng nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu trước đây, lợi thế chủ yếu đến từ năng lực sản xuất và lắp ráp, thì trong giai đoạn tới, giá trị gia tăng sẽ ngày càng tập trung vào các hoạt động nghiên cứu, thiết kế, quản trị dữ liệu, phát triển sản phẩm và đổi mới sáng tạo. Đây là những mắt xích tạo ra giá trị cao nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Sử Ngọc Khương nói.
Ông cũng nhấn mạnh mục tiêu mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra là có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng của khu vực FDI. “Như vậy, trọng tâm chính sách không còn nằm ở việc thu hút vốn đơn thuần, mà hướng đến việc nâng cao hiệu ứng lan tỏa đối với khu vực doanh nghiệp trong nước. Đây là điều kiện quan trọng để nền kinh tế Việt Nam từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại và giảm sự phụ thuộc vào các lợi thế chi phí truyền thống”, ông Sử Ngọc Khương bình luận.
Thực tế cho thấy, gần 40 năm qua, thành công trong thu hút FDI thường được đo bằng số dự án và số vốn thu hút được, khả năng tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu… Tuy vậy, trong thu hút FDI “thời Nghị quyết số 10-NQ/TW”, thước đo sẽ rất khác. Đó là mỗi đồng vốn FDI tạo ra được bao nhiêu năng suất mới, bao nhiêu công nghệ được lan tỏa, bao nhiêu doanh nghiệp Việt tham gia được chuỗi cung ứng toàn cầu, bao nhiêu trung tâm R&D được hình thành…
Nếu thực thi hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW theo định hướng trên, FDI sẽ không chỉ là nguồn lực bổ sung cho tăng trưởng, mà còn trở thành chất xúc tác để nền kinh tế bứt phá và tiến gần hơn mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững.
“Là địa bàn trọng điểm về thu hút FDI, TP.HCM nhận thức sâu sắc trách nhiệm tiên phong thực thi Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị”, ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch UBND TP.HCM chia sẻ.
Trong 6 tháng đầu năm, TP.HCM đứng thứ hai cả nước về thu hút FDI, với 7,8 tỷ USD. Còn nếu tính lũy kế, địa phương này đứng đầu, với gần 153,29 tỷ USD. Để tạo động lực cho tăng trưởng hai con số, đầu tàu kinh tế của cả nước đang đặt trọng tâm vào phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế.
“Chúng tôi xác định, đây không phải là dự án riêng của TP.HCM, mà là một thiết chế tài chính quốc gia phục vụ sự phát triển của cả nền kinh tế và là cầu nối để các địa phương, doanh nghiệp Việt Nam và các nền kinh tế chiến lược tiếp cận hiệu quả hơn với dòng vốn quốc tế”, ông Nguyễn Văn Được nói.
