Chuyên gia khuyến nghị thận trọng với các chính sách tăng thanh khoản, hỗ trợ tín dụng
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 14:25, 13/07/2026
Tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động
Phát biểu tại Hội thảo "Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển" do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức, ông Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng (Ngân hàng nhà nước - NHNN), cho rằng tín dụng vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế, bất chấp nhiều nỗ lực phát triển các kênh huy động vốn khác.
Theo số liệu đến ngày 30/6/2026, tổng dư nợ tín dụng đạt khoảng 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với đầu năm và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tổng tiền gửi huy động mới đạt hơn 17 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 3%.
"Khoảng cách giữa tín dụng và huy động đã lên tới gần 3 triệu tỷ đồng. Đáng lưu ý hơn, tốc độ tăng tín dụng đang vượt khá xa tốc độ tăng huy động vốn, tạo áp lực ngày càng lớn lên thanh khoản của các ngân hàng thương mại", ông Hòe nhận định.

Theo chuyên gia, bức tranh tín dụng nửa đầu năm cũng cho thấy dấu hiệu mất cân đối kỳ hạn ngày càng rõ nét. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) đã lên tới khoảng 115%, trong khi quy mô sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn lên tới 5,9 triệu tỷ đồng, phản ánh mức độ lệ thuộc lớn vào nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ các khoản vay có kỳ hạn dài.
Dưới góc nhìn định lượng, TS. Lý Đại Hùng, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cảnh báo tỷ lệ LDR hiện ở mức 110-115%, vượt ngưỡng an toàn và tiềm ẩn rủi ro căng thẳng thanh khoản.
Trước đó, tại họp báo kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), cũng cho biết tăng trưởng huy động vốn nhiều năm qua luôn thấp hơn tăng trưởng tín dụng.
Theo ông Quang, bình quân giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động khoảng 3,8 điểm phần trăm, khiến hệ số LDR hiện dao động 111-112%.
"Đây là mức rất lớn. Khoảng 11-12 đồng cho vay đang được tài trợ từ các nguồn vốn khác, không phải từ tiền gửi", ông Quang phân tích.
Ông Quang cho biết thanh khoản của các ngân hàng thương mại vẫn dồi dào. Tuy nhiên, sự mất cân đối giữa tín dụng và huy động đã tạo áp lực lên nguồn vốn, góp phần đẩy mặt bằng lãi suất huy động tăng trở lại từ cuối năm 2025 đến nay.
Hàng loạt chính sách hỗ trợ thanh khoản được ban hành
Trước áp lực cân đối nguồn vốn, chỉ trong hai tháng 5 và 6, các cơ quan quản lý đã liên tiếp ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ thanh khoản và mở rộng khả năng cung ứng tín dụng.
Đáng chú ý, Thông tư 08/2026/TT-NHNN cho phép các ngân hàng thương mại tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), qua đó tạo thêm dư địa tín dụng.
Tiếp đó, Công văn 4551/NHNN-CSTT cho phép phần dư nợ tín dụng tăng thêm đối với các dự án nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất được loại trừ khi tính hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản.
Đến Công văn 5386/NHNN-TD, NHNN tiếp tục cho phép loại trừ dư nợ của 18 dự án trọng điểm do Vingroup, Masterise và Sun Group đề xuất khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng. Tổng nhu cầu vốn của nhóm dự án này lên tới khoảng 752.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Thông tư 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%.
Mới đây, Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 cũng giao Bộ Tài chính chủ động quyết định hạn mức sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại; trong trường hợp cần thiết, hạn mức này có thể vượt 50% tổng số ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi.
Theo các chuyên gia, các chính sách trên giúp bổ sung nhanh nguồn vốn cho nền kinh tế, giảm áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định mặt bằng lãi suất và tạo điều kiện tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm.
Tuy nhiên, việc liên tiếp nới lỏng các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng cũng đặt ra nhiều lo ngại. Theo các chuyên gia, đây là những giải pháp mang tính hỗ trợ ngắn hạn, trong khi các rủi ro về mất cân đối nguồn vốn và chất lượng tín dụng vẫn chưa được xử lý tận gốc.
"Liều thuốc mạnh" nhưng không nên kéo dài
Theo ông Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, các chính sách nới lỏng được ban hành thời gian qua chỉ nên coi là giải pháp tình thế nhằm hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn.
"Điều này có thể làm gia tăng áp lực vốn đối với các ngân hàng thương mại, đồng thời ảnh hưởng đến xếp hạng tín nhiệm của hệ thống ngân hàng", ông Hòe nhận định.
Ông cho rằng, sau gần ba thập kỷ từng bước siết chặt các quy định an toàn, việc nâng trở lại tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% là một quyết định cần được cân nhắc kỹ và chỉ nên áp dụng trong thời gian nhất định.
Đã đến lúc Việt Nam cần một cuộc cải cách thể chế quyết liệt để xây dựng hệ sinh thái tài chính đa tầng, trong đó hệ thống ngân hàng chỉ là một cấu phần, bên cạnh các định chế tài chính phát triển, thị trường vốn và hệ thống tài chính phi ngân hàng. Khi đó, nền kinh tế sẽ giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa nâng cao khả năng chống chịu và bảo đảm an toàn cho toàn bộ hệ thống tài chính
Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho rằng việc ban hành đồng loạt nhiều chính sách hỗ trợ thanh khoản có thể giúp tháo gỡ khó khăn trước mắt, nhưng cũng làm gia tăng nguy cơ mất cân đối kỳ hạn.
Theo ông, việc nới trần sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn không làm rủi ro thanh khoản biến mất mà chỉ tạm thời trì hoãn.
Bởi nếu các ngân hàng tiếp tục sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các dự án có thời gian thu hồi vốn từ 10-20 năm, chỉ cần xảy ra biến động khiến người gửi tiền rút vốn hàng loạt, hệ thống có thể đối mặt với nguy cơ mất cân đối dòng tiền.

Các chuyên gia cũng cảnh báo nguy cơ một số tổ chức tín dụng lợi dụng cơ chế nới lỏng để cơ cấu lại các khoản vay, kéo dài thời gian ghi nhận nợ xấu hoặc đảo nợ.
"Khi các cơ chế ưu đãi hết hiệu lực hoặc dự án không đạt hiệu quả như kỳ vọng, lượng nợ xấu đang được che phủ có thể đồng loạt bộc lộ, tạo áp lực lớn lên việc trích lập dự phòng và an toàn của hệ thống ngân hàng", ông Phạm Xuân Hòe cảnh báo.
Theo các chuyên gia, những biện pháp hỗ trợ hiện nay có thể ví như một "liều thuốc mạnh" đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, để tránh hệ lụy trong tương lai, các chính sách này cần có thời hạn rõ ràng và lộ trình rút dần khi điều kiện thị trường ổn định hơn.