Kinh tế 6 tháng giữ đà phục hồi, nhận diện và hóa giải áp lực nửa cuối năm
Tin tức - Ngày đăng : 14:39, 03/07/2026
![]() |
Nhiều động lực tăng trưởng được củng cố
Tại họp báo, Cục trưởng Cục Thống kê cho biết, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, kinh tế Việt Nam vẫn đạt nhiều kết quả tích cực trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Điểm nổi bật nhất là tăng trưởng kinh tế duy trì đà cao. GDP quý II/2026 ước tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18%, cao hơn mức tăng 7,63% của cùng kỳ năm 2025. Trong mức tăng chung, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, khu vực dịch vụ tăng 8,09%, tiếp tục là hai động lực đóng góp lớn cho tăng trưởng.
Theo bà Hương, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%.
![]() |
Cùng với sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ tiếp tục là điểm sáng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 12,5%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 15,6%; du lịch lữ hành tăng 15%. Diễn biến này cho thấy sức mua trong nước, hoạt động đi lại, du lịch và tiêu dùng dịch vụ tiếp tục phục hồi.
Một điểm đáng chú ý khác là dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng mạnh. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đến ngày 30/6/2026 đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện 6 tháng đầu năm ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% và là mức cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến quan trọng trong chuỗi sản xuất khu vực.
![]() |
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa cũng tăng mạnh. Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu tăng 21%, nhập khẩu tăng 33,4%. Theo Cục Thống kê, tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu phản ánh nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, đồng thời cho thấy sự phục hồi mạnh của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Áp lực điều hành nửa cuối năm còn lớn
Bên cạnh các kết quả tích cực, bà Nguyễn Thị Hương lưu ý, kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nền kinh tế có độ mở lớn nên chịu tác động không nhỏ từ các biến động kinh tế, chính trị, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Vì vậy, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức rất lớn, đòi hỏi sự điều hành linh hoạt, kịp thời, gắn thúc đẩy tăng trưởng với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội.
Áp lực đầu tiên là lạm phát. CPI tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới. Tuy nhiên, CPI tháng 6 vẫn tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước; CPI bình quân quý II tăng 5,25%; tính chung 6 tháng đầu năm, CPI tăng 4,38% và lạm phát cơ bản tăng 4,12%. Các yếu tố gây sức ép lên mặt bằng giá vẫn hiện hữu, nhất là hàng ăn và dịch vụ ăn uống, nhà ở, điện nước, chất đốt, vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục.
![]() |
Áp lực thứ hai là cán cân thương mại và chi phí đầu vào. Dù nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu là tín hiệu cho thấy sản xuất phục hồi, nhưng cũng cần theo dõi chặt chẽ vì 6 tháng đầu năm, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,95 tỷ USD.
Áp lực thứ ba là tiến độ giải ngân đầu tư công. Mặc dù tháng 6 có chuyển biến tích cực hơn so với các tháng đầu năm, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 30,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, vẫn thấp so với yêu cầu và thấp hơn cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước đạt 36%). Đây là điểm cần được tháo gỡ mạnh hơn, nhất là khi đầu tư công tiếp tục được kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa tới xây dựng, vật liệu, logistics và tổng cầu.
Từ các áp lực trên, Cục Thống kê cho rằng, thời gian tới cần tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát giá cả và thị trường. Các bộ, ngành, địa phương cần theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới, kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng, lạm phát; quản lý giá xăng dầu linh hoạt và tránh điều chỉnh đồng thời các mặt hàng do Nhà nước quản lý để giảm áp lực lạm phát.
Theo bà Hương, cần thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung, kiểm soát chi phí logistics, đồng thời đẩy nhanh tháo gỡ thủ tục, khơi thông nguồn cung vật liệu và thúc đẩy giải ngân đầu tư công. Cùng với đó, tiếp tục kích cầu tiêu dùng, phát triển thương mại điện tử, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, tận dụng hiệu quả các FTA, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
| Nghị quyết 168/NQ-CP: Cập nhật kịch bản tăng trưởng, tăng tốc điều hành các quý còn lạiChính phủ vừa ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại, nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Nghị quyết được ban hành trong bối cảnh kinh tế 6 tháng đầu năm đạt nhiều kết quả quan trọng, song mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Về tài khóa, Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính tiếp tục điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; phân bổ nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 trong tháng 7/2026; phân bổ vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 trước ngày 15/7/2026; đồng thời bảo đảm nguồn thực hiện tăng lương cơ sở từ ngày 1/7/2026. Một trọng tâm lớn là đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tập trung nguồn lực, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch được giao; xây dựng kịch bản giải ngân chi tiết theo từng tuần, từng tháng, từng quý để cảnh báo sớm và chỉ đạo kịp thời; tiếp tục gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân. Đồng thời, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, tăng cường kỷ luật tài chính - ngân sách. Về tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu điều hành chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả. Triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Theo dõi sát, đánh giá tình hình, cập nhật, phân tích cán cân thanh toán quốc tế hằng tháng, tình hình xuất nhập khẩu, dòng vốn đầu tư, thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế và các yếu tố tác động đến tỷ giá, thị trường ngoại hối; tăng cường các biện pháp quản lý, giám sát, ổn định thị trường ngoại hối; nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát tín dụng vào lĩnh vực rủi ro, hướng vốn vào sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các dự án trọng điểm. Đối với sản xuất, xuất nhập khẩu, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí logistics, đối thoại với doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ vướng mắc. Với công nghiệp - xây dựng, Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để từng bước khắc phục nhập siêu. Với dịch vụ, tiêu dùng và du lịch, Chính phủ yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, gắn với yêu cầu nâng cấp các ngành sản xuất; tăng cường xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu Việt; đồng thời tập trung xúc tiến quảng bá du lịch theo thị trường mục tiêu, cơ cấu lại thị trường khách quốc tế, khai thác hiệu quả các thị trường gần và có quy mô lớn. |



