Quản trị rủi ro chủ động để giữ vững ổn định vĩ mô
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 15:41, 01/06/2026
Cú sốc không còn là ngoại lệ
Dù nền tảng tăng trưởng tích cực nhưng môi trường bên ngoài cũng khó lường và thách thức hơn. Cú sốc giá năng lượng toàn cầu đã và đang diễn ra với những tác động lan tỏa lớn là một ví dụ, càng cho thấy mỗi cuộc khủng hoảng bên ngoài không còn là những rủi ro xa và làm bộc lộ rõ hơn những điểm hạn chế mang tính cơ cấu trong mô hình tăng trưởng hiện nay.
Điểm đáng chú ý là các cú sốc như vậy xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn, trở thành yếu tố “bình thường mới” trong nền kinh tế toàn cầu và không còn được coi là hiện tượng cá biệt hay mang tính chu kỳ có thể dự báo trước. Đối mặt với thực tế kinh tế thế giới bước vào giai đoạn nhiều biến động hơn như vậy, quản trị rủi ro chủ động trở thành điều kiện thiết yếu để giữ vững ổn định vĩ mô, duy trì các động lực tăng trưởng. Nói cách khác, vấn đề là làm thế nào để nền kinh tế hấp thụ các cú sốc tốt hơn, giảm thiểu tác động tiêu cực.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, lưu ý rằng, khả năng chống chịu của Việt Nam đang được thể hiện rõ, nhưng chính độ mở cao và sự phụ thuộc vào các chuỗi giá trị toàn cầu khiến Việt Nam cần quan tâm hơn tới các điểm dễ tổn thương trong môi trường quốc tế nhiều bất định. Đây cũng là nhận định được nhiều tổ chức, chuyên gia đồng thuận, cho thấy yêu cầu điều hành hiện nay không chỉ là xử lý một cú sốc cụ thể, mà là chuẩn bị cho một môi trường trong đó tần suất xuất hiện các cú sốc có thể xuất hiện thường xuyên hơn, phức tạp hơn và lan truyền nhanh hơn. Đó cũng là lý do bài toán ổn định vĩ mô không thể tách rời bài toán cải cách dài hạn.
![]() |
| Quản lý tốt các cú sốc ngắn hạn cần đi cùng cải cách dài hạn để củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững |
Ổn định vĩ mô là điểm khởi đầu
Trong ngắn hạn, quản lý cú sốc trước hết đòi hỏi giữ được nền tảng ổn định vĩ mô. Khi giá dầu tăng, tỷ giá chịu sức ép, chi phí nhập khẩu cao hơn hoặc thương mại toàn cầu suy yếu, phản ứng chính sách cần đủ nhanh để giữ niềm tin thị trường, nhưng cũng phải đủ thận trọng để không tạo thêm mất cân đối mới. Ví dụ với cú sốc năng lượng trong ngắn hạn, việc để cho giá cả phản ánh đúng tín hiệu nguồn cung, đồng thời triển khai các biện pháp hỗ trợ có mục tiêu và có thời hạn là cách tiếp cận cân bằng để giảm thiểu tác động của biến động giá năng lượng đến lạm phát, sản xuất, tiêu dùng và kỳ vọng thị trường.
Trong điều hành, các chỉ đạo gần đây của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng nhấn mạnh việc theo dõi sát diễn biến, chủ động dự báo sớm, xây dựng kịch bản điều hành kinh tế vĩ mô, phối hợp chặt giữa tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để phản ứng linh hoạt, kịp thời trước biến động.
Cách tiếp cận này cho thấy ổn định vĩ mô không thể chỉ dựa vào một công cụ riêng lẻ. Chính sách tiền tệ cần thận trọng, linh hoạt để kiểm soát lạm phát, đảm bảo giá trị VND, ổn định tỷ giá, lãi suất; trong khi chính sách tài khóa cần giữ kỷ luật nhưng vẫn có dư địa tốt để triển khai các công cụ hỗ trợ; chính sách thương mại, năng lượng, an sinh và thị trường vốn cũng phải phối hợp để giảm độ dễ tổn thương của nền kinh tế.
Theo các chuyên gia, tăng trưởng nhanh gắn với bền vững là mục tiêu cần thiết, niềm tin vào triển vọng tăng trưởng cao trong giai đoạn tới cần được chuyển hóa thành hành động thực tế, nhất là thông qua đổi mới mô hình quản trị, đầu tư, phân bổ nguồn lực hiệu quả. Một nền kinh tế muốn hướng tới tăng trưởng cao không thể chỉ tập trung vào tốc độ, mà phải giữ được nền tảng ổn định, niềm tin thị trường và khả năng chống chịu trước biến động. Ổn định vĩ mô vì vậy là yếu tố tiên quyết, là điểm khởi đầu và nền tảng quan trọng. Đối mặt với mỗi cú sốc, câu hỏi đặt ra là nền kinh tế đã học được gì, củng cố được gì và có những chính sách, giải pháp gì để giảm thiểu tổn thương cho giai đoạn tiếp theo.
Chống chịu dài hạn đến từ cải cách thực chất
Điểm đáng chú ý trong khuyến nghị của các tổ chức và chuyên gia là quản lý các cú sốc ngắn hạn và đặt nền móng cho khả năng chống chịu dài hạn không phải là một sự đánh đổi. Đây là hai yêu cầu phải được thúc đẩy song hành. Nếu chỉ xử lý cú sốc trước mắt mà chậm cải cách, nền kinh tế sẽ tiếp tục dễ tổn thương trước cú sốc tiếp theo. Nhưng nếu chỉ nói tới cải cách dài hạn mà thiếu phản ứng kịp thời, nền tảng ổn định hiện tại có thể bị suy giảm.
Vì vậy, chống chịu dài hạn phải bắt đầu từ cải cách thực chất. Bà Mariam J. Sherman cho rằng, chương trình cải cách hiện nay có quy mô rất lớn và mang tính thế hệ. Theo bà, trọng tâm hiện nay phải là thực thi và thúc đẩy các cải cách đó tiến về phía trước. Đây là điểm rất quan trọng, bởi cải cách nếu chỉ dừng ở chủ trương hay văn bản sẽ chưa đủ để tạo ra khả năng chống chịu. Năng lực thực thi, phối hợp chính sách và trách nhiệm giải trình mới là yếu tố quyết định cải cách có chuyển hóa thành kết quả hay không.
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, tại Hội thảo “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế 2 con số bền vững: Bối cảnh mới, hành động mới” do báo Dân trí tổ chức ngày 27/5, cho rằng để phấn đấu tăng trưởng kinh tế 2 con số, “không có cách nào khác ngoài hành động mới kèm theo tính bền vững”. Đáng chú ý, ông Phan Đức Hiếu nhấn mạnh thể chế phải đóng vai trò tiên phong, phải làm mới thể chế để tạo ra các dư địa tăng trưởng mới. Đây cũng chính là nền tảng của năng lực chống chịu dài hạn, bởi thể chế tốt giúp chính sách phản ứng nhanh hơn, nguồn lực phân bổ hiệu quả hơn và doanh nghiệp thích ứng tốt hơn.
Bên cạnh đó, để tránh phân mảnh, hiệu quả kém, “hành động mới” phải dựa trên sự hợp tác, phối hợp theo tư duy hệ thống, tổng thể, theo hệ sinh thái. Nền kinh tế bao gồm nhiều liên kết đan xen và tác động lẫn nhau, vì vậy một cú sốc trực tiếp với một ngành, lĩnh vực cụ thể sẽ kéo theo tác động gián tiếp tới các lĩnh vực khác. Giá dầu có thể tác động tới vận tải, sản xuất nhưng cũng gián tiếp tác động tới lạm phát, tiêu dùng, ngân sách, tâm lý thị trường... Vì vậy, phản ứng chính sách nếu phân mảnh sẽ khó tạo hiệu quả. Nâng khả năng chống chịu dài hạn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách và giữa khu vực công với khu vực tư.
Các bộ đệm chống chịu vì thế cần được hiểu rộng hơn dư địa tài khóa hay dự trữ ngoại hối. Bởi đó là khả năng huy động vốn dài hạn, chất lượng hạ tầng, an ninh năng lượng, độ bao phủ của an sinh, năng lực thích ứng của doanh nghiệp, khả năng tham gia chuỗi cung ứng linh hoạt hơn cũng như chất lượng thực thi chính sách. Khi các nền tảng này được củng cố, nền kinh tế vừa giảm thiểu thiệt hại, vừa phục hồi nhanh hơn sau cú sốc.
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên Chính sách công, Đại học Fulbright Việt Nam, cũng lưu ý rằng, thách thức không chỉ nằm ở việc chính sách đã rõ hay chưa, mà ở cách chính sách được triển khai trên thực tế. Trong bối cảnh nhiều mục tiêu lớn được thúc đẩy cùng lúc, năng lực thiết kế, đánh giá tác động và thực thi chính sách sẽ quyết định việc nguồn lực có được phân bổ đúng nơi, đúng thời điểm hay không. Các nguồn lực lớn được phân bổ, sử dụng hiệu quả cũng rất phù hợp với yêu cầu xây dựng sức chống chịu dài hạn.
Tựu trung lại, một nền kinh tế có độ mở cao không thể miễn nhiễm trước biến động bên ngoài. Nhưng nền kinh tế đó có thể bớt dễ tổn thương hơn nếu có bộ đệm vĩ mô tốt hơn, thể chế linh hoạt hơn, thị trường vốn sâu hơn, doanh nghiệp có năng lực thích ứng cao hơn và chính sách được thực thi nhất quán hơn. Quản lý cú sốc ngắn hạn vì vậy không phải là nhiệm vụ tách biệt với cải cách dài hạn. Trong giai đoạn tới, Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao sẽ càng cần giữ vững ổn định vĩ mô, đồng thời đẩy nhanh cải cách để tăng năng suất, nâng năng lực nội sinh và củng cố các bộ đệm chống chịu.
