Gỡ điểm nghẽn thể chế: Thành bại tại bộ máy thực thi
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 09:44, 19/05/2026
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhiều lần phát biểu, thể chế là "điểm nghẽn” của "điểm nghẽn". Trong thời gian, với nhiều nỗ lực, Nhà nước đã có nhiều đột phá để tháo gỡ các "nút thắt" thể chế, tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp.
Khơi thông dòng chảy nguồn lực
Trao đổi với Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadatu.vn về vấn đề này, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhận định, chúng ta đang trên đường giải phóng các rào cản về thể chế, không chỉ dừng ở việc tháo gỡ những vướng mắc cụ thể mà đã có những đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng và thực thi pháp luật.
Một trong những định hướng quan trọng là chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo và phát triển.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng dẫn chứng, vừa qua, việc Chính phủ ban hành đồng loạt 8 Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh ngay trong tháng đầu tiên của nhiệm kỳ không chỉ là một quyết sách hành chính thông thường.
"Đó là một tuyên bố chính trị - thể chế về cách Chính phủ lựa chọn hành động. Điểm gây ấn tượng mạnh nhất trước hết là quy mô cải cách", TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh.

Cụ thể với Nghị quyết được ban hành, Chính phủ tiến hành sửa đổi, bổ sung đồng bộ 163 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có tới 155 nghị định - một con số chưa từng có trong các đợt cải cách trước đây. Trên cơ sở đó, 184 thủ tục hành chính được bãi bỏ, 134 thủ tục được phân cấp, và 349 thủ tục được đơn giản hóa.
Đáng chú ý, Chính phủ còn quyết định bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, đồng thời đưa tỉ lệ thủ tục hành chính do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết xuống còn khoảng 27%. Mục tiêu đặt ra là giảm hơn 50% thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
"Những con số này không chỉ phản ánh quy mô, mà còn cho thấy một cách tiếp cận mới: Đổi mới một cách căn cơ và có hệ thống, thay vì điều chỉnh từng phần nhỏ lẻ như trước đây", ông Nguyễn Sĩ Dũng nói.
Cũng theo ông, việc ban hành đồng loạt 8 Nghị quyết ngay trong tháng đầu nhiệm kỳ cho thấy đây không phải là những quyết định mang tính thử nghiệm, mà là những lựa chọn đã được cân nhắc kỹ lưỡng và triển khai với quyết tâm cao. Trong quản trị công, tốc độ không đơn thuần là yếu tố kỹ thuật. Khi cải cách được thực hiện nhanh và đồng bộ, đó là dấu hiệu của một Chính phủ không chỉ có ý chí, mà còn có năng lực hành động.
"Những gì diễn ra không chỉ là cắt giảm thủ tục, mà là thiết kế lại cách vận hành của hệ thống hành chính. Chính phủ không chỉ giảm số lượng quy định, mà đang thay đổi logic vận hành của quyền lực nhà nước một cách thực chất và hiệu quả. Những chuyển dịch nói trên không chỉ mang ý nghĩa về mặt thể chế, mà còn có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế", ông Dũng nói.
Với doanh nghiệp, việc cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm đáng kể chi phí tuân thủ - không chỉ là chi phí chính thức, mà cả những chi phí không chính thức vốn là một gánh nặng lâu nay. Quy trình nhanh hơn, rõ ràng hơn cũng giúp doanh nghiệp tăng tốc độ ra quyết định, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Với người dân, việc giảm thủ tục và giảm tiếp xúc trực tiếp với cơ quan hành chính sẽ góp phần giảm rủi ro nhũng nhiễu, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Với nền kinh tế, ý nghĩa lớn nhất là khơi thông dòng chảy nguồn lực. Khi các rào cản thủ tục được dỡ bỏ, nguồn vốn, ý tưởng và năng lực sản xuất có thể vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đây chính là điều kiện cần để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.
Quan trọng hơn, những quyết định này góp phần tái thiết niềm tin - niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh, niềm tin của người dân vào hiệu quả của bộ máy hành chính.
"Đây là một trong những giải pháp nhanh nhất, ngắn nhất để hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tác động trực tiếp ngay tới tăng trưởng với mục tiêu 2 con số và quan trọng hơn cả, sẽ giúp củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp", nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhấn mạnh thêm.
Đồng quan điểm, bà Phạm Thị Ngọc Thuỷ, Giám đốc Văn phòng ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (ViEF) - Ban IV phân tích rằng, hành động của Chính phủ là cuộc "tổng tấn công" vào những vấn đề còn là rào cản, trì trệ của hệ thống hành chính, điều chưa từng xảy ra.
"Động thái này thể hiện mức độ chủ động rất cao của Chính phủ, đồng thời cho thấy quyết tâm cải cách tận gốc các vấn đề thể chế, tháo gỡ rào cản trong môi trường kinh doanh và thúc đẩy cải cách toàn diện trên nhiều ngành, lĩnh vực. Đây là sự chủ động, quy mô, toàn diện. Tôi cảm nhận đó là quyết tâm rất lớn và chưa từng có", bà Thủy bày tỏ.
Theo bà, Chính phủ không chờ doanh nghiệp lên tiếng mới tiến hành cải cách. Ngay khi tiếp nhận nhiệm vụ, các chỉ đạo đã thể hiện rõ tính trọng tâm, ưu tiên và sự chủ động. Chính phủ thực sự làm gương trong vai trò kiến tạo phát triển. Quá trình chỉ đạo cải cách đã ghi nhận những bước tiến mang tính đột phá.
"Các cải cách này tác động trực diện đến chi phí tuân thủ của doanh nghiệp. Trong nhiều năm, việc tuân thủ pháp lý và thủ tục hành chính luôn là vấn đề được doanh nghiệp kiến nghị do phát sinh chi phí trực tiếp và gián tiếp rất lớn. Cải cách sẽ giúp tiết kiệm hàng tỷ đồng, rút ngắn thời gian, qua đó nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế", nữ Giám đốc ViEF bình luận.
"Thành bại ở bộ máy thực thi"
Công cuộc cải cách thể chế đang diễn ra sâu rộng, các chuyên gia nhìn nhận thẳng thắn rằng, tháo gỡ những điểm nghẽn này đi kèm với những thách thức không nhỏ.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, điều đáng quan tâm nhất là tư duy của bộ máy. Theo ông, nếu tư duy quản lý cũ vẫn tồn tại, thì cải cách trên giấy có thể không chuyển hóa thành thay đổi trong thực tế.
"Trung ương, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo về đổi mới tư duy phải đươc quán triệt không chỉ ở cấp lãnh đạo các bộ hay địa phương, mà phải xuống tới cấp các vụ cục, đơn vị trực thuộc, cấp thực thi. Cải cách lớn nhất không nằm ở văn bản, mà nằm ở cách bộ máy thực thi nó mỗi ngày", TS. Dũng phân tích.
Đồng tình với quan điểm trên, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khẳng định, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc chúng ta thiếu chủ trương hay thiếu định hướng phát triển.
Ông Cung lý giải, thực tế, trong nhiều năm qua, các nghị quyết, chiến lược hay định hướng lớn đều đã nêu rất đúng và rất trúng vấn đề. nhưng điều đáng suy nghĩ là sau 10-15 năm, nhiều vấn đề cốt lõi vẫn chuyển biến khá chậm.
Theo tôi, nguyên nhân quan trọng nhất là đang thiếu một "đội ngũ ở giữa" - đội ngũ có đủ năng lực để chuyển hóa các định hướng chính trị, các chủ trương lớn thành chính sách cụ thể, có thể triển khai được trong thực tế.
"Từ một nghị quyết đúng đến một chính sách hiệu quả là cả một quá trình rất dài, đòi hỏi năng lực phân tích, thiết kế thể chế và tổ chức thực thi rất cao. Nếu không làm rõ được nội hàm cụ thể của từng chủ trương, không trả lời được phải làm gì, làm như thế nào, ai làm và chịu trách nhiệm ra sao thì cuối cùng chủ trương vẫn chỉ dừng lại ở khẩu hiệu", theo ông Nguyễn Đình Cung.
Cũng theo vị chuyên gia, tư duy làm luật hiện nay vẫn còn nặng về quản lý và kiểm soát. Chính tâm lý đó khiến hệ thống pháp luật ngày càng chặt chẽ theo hướng tiền kiểm, quy định rất nhiều thủ tục, xin phép, phê duyệt và ràng buộc hành chính.
Hệ quả là doanh nghiệp bị bó buộc trong rất nhiều tầng nấc thủ tục, không có đủ không gian để chủ động sáng tạo hay tự chịu trách nhiệm theo cơ chế thị trường.
Trong khi đó, đáng lẽ tư duy quản lý hiện đại phải là tạo ra một hệ thống mà ở đó doanh nghiệp được quyền tự vận hành, tự quyết định trong khuôn khổ pháp luật, còn Nhà nước tập trung giám sát bằng kết quả đầu ra, bằng tính minh bạch và bằng kỷ luật thị trường.
"Nếu không thay đổi tư duy thể chế theo hướng đó thì rất khó tạo ra đột phá thực sự. Bởi cuối cùng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực hay vốn đầu tư, mà phụ thuộc rất lớn vào chất lượng thể chế và mức độ tự do vận hành của doanh nghiệp trong nền kinh tế", nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhìn nhận