Định hướng chính sách nào để hỗ trợ tăng trưởng?

Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 16:05, 18/05/2026

Các số liệu kinh tế vĩ mô bốn tháng đầu năm cho thấy động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn đang được duy trì khá vững chắc. Tuy vậy, nguồn lực tăng trưởng đang có sự dịch chuyển khi ngày càng dựa nhiều hơn vào các yếu tố nội địa, dẫn dắt bởi đầu tư, đồng thời trở nên nhạy cảm hơn với chất lượng thực thi chính sách và lạm phát.
Đầu tư hạ tầng và xây dựng nổi lên như các trụ cột tăng trưởng bổ sung bên cạnh xuất khẩu. Ảnh: N.K

Cụ thể, về phía cung, chỉ số sản xuất công nghiệp bốn tháng đầu năm 2026 tăng 9,2% so với cùng kỳ, trong đó sản xuất chế biến - chế tạo tăng 9,9%. Theo SSI Research, thay đổi then chốt không nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà ở cơ cấu đóng góp.

Tăng trưởng đã lan tỏa ra ngoài ngành điện tử xuất khẩu (tăng khoảng 8,4%) sang các lĩnh vực chu kỳ và định hướng nội địa hơn như: hóa chất (+20,6%), kim loại (+18,7%) và vật liệu xây dựng (+17,9%). Điều này xác nhận một chu kỳ công nghiệp cân bằng hơn, trong đó đầu tư hạ tầng và xây dựng nổi lên như các trụ cột tăng trưởng bổ sung bên cạnh xuất khẩu.

Về đầu tư, động lực đầu tư công và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang đồng pha. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, giải ngân đầu tư công bốn tháng đầu năm đạt 144.282,9 tỉ đồng, tương đương 14,2% kế hoạch năm.

Trong khi đó, vốn FDI giải ngân tăng 9,8% so với cùng kỳ, đạt 7,4 tỉ đô la Mỹ; vốn FDI đăng ký vào Việt Nam (gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài) tăng mạnh 32% lên 18,2 tỉ đô la Mỹ, với khoảng 70% tập trung vào lĩnh vực sản xuất.

Có thể thấy, đầu tư công đóng vai trò nâng đỡ cầu trong ngắn hạn, trong khi FDI củng cố năng lực sản xuất trong tương lai, hình thành cấu trúc tăng trưởng “hai động cơ” ngày càng mang tính bổ trợ.

Nhìn chung, chính sách đang theo hướng phân công vai trò rõ ràng: tài khóa đóng vai trò tạo tăng trưởng, trong khi tiền tệ tập trung ổn định thanh khoản và lạm phát.

Về hoạt động giao thương, tổng kim ngạch thương mại tăng 24,2% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu tăng 19,7% và nhập khẩu tăng 28,7%, dẫn đến thâm hụt thương mại 7,1 tỉ đô la Mỹ.

Dù nhập siêu tăng song gần 94% mức tăng nhập khẩu đến từ hàng hóa tư liệu sản xuất và nguyên vật liệu trung gian, phù hợp với bối cảnh đầu tư mạnh và mở rộng năng lực sản xuất, thay vì phản ánh sự suy yếu về năng lực cạnh tranh. Xuất khẩu vẫn chủ yếu do khu vực FDI dẫn dắt (chiếm khoảng 80%), cho thấy Việt Nam tiếp tục phụ thuộc lớn vào khu vực sản xuất có vốn FDI.

Về tiêu dùng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bốn tháng đầu năm tăng 11,1% so với cùng kỳ (tương đương mức tăng trưởng thực 6,3% sau khi trừ lạm phát). Cầu tiêu dùng hộ gia đình đang phục hồi nhưng chưa bứt phá, do bị kìm hãm bởi chi phí sinh hoạt cao hơn và mức cải thiện thu nhập thực còn hạn chế.

Về lạm phát, áp lực đã gia tăng đáng kể khi CPI tháng 4 tăng mạnh lên mức 5,46% so với cùng kỳ với 10/11 nhóm hàng ghi nhận mức tăng, cho thấy sự truyền dẫn áp lực giá đang diễn ra dần dần.

Nhìn chung, theo SSI Research, tăng trưởng đang duy trì đà đi lên khá vững và có sự lan tỏa hơn, tuy nhiên áp lực chi phí và năng lực thực thi nổi lên như những ràng buộc then chốt, định hình môi trường chính sách thiên về kỷ luật triển khai hơn là mở rộng kích thích.

Các thông điệp sau Đại hội Đảng cho thấy khung thể chế và chính sách cơ bản đã được hoàn thiện. Ràng buộc chính đối với tăng trưởng đã chuyển dịch rõ rệt, từ tham vọng và thiết kế cải cách sang thực thi, trách nhiệm giải trình và triển khai trên quy mô lớn.

Bên cạnh đó, Kết luận số 18 của Bộ Chính trị được cho là sẽ đóng vai trò trụ cột cho giai đoạn tiếp theo khi đặt mục tiêu tăng trưởng cao đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô.

Về cơ bản, năm 2026 được định vị là năm chuyển tiếp để tháo gỡ các nút thắt cấu trúc và thực thi, tạo tiền đề cho giai đoạn tăng tốc mạnh mẽ hơn trong giai đoạn 2027-2030.

Các cải cách ưu tiên bao gồm: nới hạn mức sở hữu nước ngoài trong các lĩnh vực không nhạy cảm; thành lập Quỹ Nhà ở quốc gia; cải thiện phân bổ đầu tư công (có thể thông qua việc hợp nhất Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước); hoàn thiện khung cải cách ngân hàng và thị trường vốn; đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; tái cấu trúc SCIC thành Quỹ đầu tư quốc gia; và tăng cường khuyến khích tái đầu tư FDI và chuyển giao công nghệ.

Hướng cải cách đã rõ ràng, kết quả tăng trưởng sẽ phụ thuộc chủ yếu vào mức độ và tính nhất quán trong thực thi ở cấp địa phương, hơn là vào định hướng chính sách.

Về các chính sách cụ thể, cấu trúc đang ngày càng xoay quanh việc mở rộng tài khóa. Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu bội chi ngân sách duy trì ở mức tối đa khoảng 5% GDP, với chi tiêu tập trung mạnh vào đầu tư phát triển.

Thách thức then chốt không nằm ở dư địa tài khóa, mà ở tốc độ và hiệu quả thực thi. Trên thực tế, tiến độ giải ngân vẫn không đồng đều khi tính đến giữa tháng 4-2026, giải ngân trên toàn quốc chỉ đạt 12,6% kế hoạch năm, so với mức trên 22% tại các địa phương dẫn đầu.

Ở chiều ngược lại, chính sách tiền tệ đang được điều hành khá chủ động nhưng lại chịu ràng buộc bởi tình trạng thanh khoản mang tính cấu trúc. Tỷ lệ cho vay trên huy động của toàn hệ thống ở mức gần 112% vào cuối tháng 3-2026, cho thấy áp lực vốn dai dẳng.

Các biện pháp bơm tiền qua kênh thị trường mở (OMO) và nâng trần tiền gửi Kho bạc Nhà nước đã giúp ổn định tình hình, nhưng chưa hoàn toàn giải quyết được vấn đề. Ngân hàng Nhà nước hiện vẫn duy trì mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15% cho năm 2026, nhưng chủ trương hướng dòng tiền vào lĩnh vực sản xuất, hạ tầng và các ngành ưu tiên, đồng thời siết chặt kiểm soát đối với tín dụng bất động sản.

Nhìn chung, chính sách đang theo hướng phân công vai trò rõ ràng: tài khóa đóng vai trò tạo tăng trưởng, trong khi tiền tệ tập trung ổn định thanh khoản và lạm phát. Trên cơ sở đó, bất kỳ sự nới lỏng nào trong tương lai nhiều khả năng sẽ có tính chọn lọc và có lộ trình, thông qua các kênh tái cấp vốn cho hạ tầng, nhà ở; điều chỉnh quy định có mục tiêu, hỗ trợ thanh khoản linh hoạt, thay vì cắt giảm lãi suất trên diện rộng.

Đăng Linh