Áp lực lạm phát gia tăng - bài toán khó với chính sách tiền tệ

Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 15:35, 11/05/2026

Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính (NHNN) cho biết áp lực lạm phát trong năm 2026 đang gia tăng rõ rệt. Đồng thời, nguy cơ nhập siêu quay trở lại sau nhiều năm xuất siêu cũng tạo thêm áp lực lên tỷ giá và thị trường ngoại hối.

Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên được đặt ra cho năm 2026, ngành ngân hàng đang đối mặt với một bài toán điều hành ngày càng phức tạp: vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa kiểm soát lạm phát và giữ ổn định vĩ mô trong điều kiện dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp.

Chia sẻ tại tọa đàm mới đây, ông Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước NHNN cho biết, năm 2026 là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, đồng thời là năm có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới.

Ông Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc NHNN phát biểu tại Tọa đàm "Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế". Ảnh: TBNH

Quốc hội đã đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, đồng thời kiểm soát CPI bình quân khoảng 4,5%. Điều này tạo ra yêu cầu rất lớn đối với công tác điều hành kinh tế vĩ mô, trong đó có chính sách tiền tệ.

“Ngành ngân hàng có trách nhiệm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng; hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng; đồng thời góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng”, Phó Thống đốc nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo NHNN, bài toán hiện nay không chỉ là làm sao tăng trưởng tín dụng đủ mạnh để hỗ trợ nền kinh tế, mà còn phải bảo đảm chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro và giữ ổn định hệ thống trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục nhiều bất định.

Phân tích sâu hơn về áp lực điều hành, ông Phạm Chí Quang cho rằng chính sách tiền tệ hiện đang chịu tác động rất lớn từ biến động kinh tế - tài chính toàn cầu.

Căng thẳng địa chính trị, xu hướng lạm phát kéo dài và sự thay đổi trong chính sách của các ngân hàng trung ương lớn đang tạo ra áp lực đáng kể đối với các nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam.

IMF cho biết, lạm phát toàn cầu năm 2026 có thể tăng lên khoảng 4,4%, cao hơn mức thực tế năm 2025. Điều này khiến nhiệm vụ kiểm soát lạm phát tiếp tục là ưu tiên hàng đầu của nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới.

Ở trong nước, mục tiêu tăng trưởng cao kéo dài trong cả giai đoạn 2026-2030 càng khiến bài toán điều hành chính sách tiền tệ trở nên khó khăn hơn.

“Đây là bài toán đa mục tiêu, đòi hỏi vừa phải kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế”, ông Quang nhận định.

Một trong những vấn đề được nhiều chuyên gia đề cập là dư địa của chính sách tiền tệ hiện không còn rộng.

Trong bối cảnh lạm phát có xu hướng gia tăng, áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu và thanh khoản hệ thống chịu nhiều sức ép, việc tiếp tục giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp cần được thực hiện thận trọng hơn. Bài toán điều hành hiện nay không đơn thuần là giảm lãi suất. Nếu nới lỏng tiền tệ quá mạnh trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng, nguy cơ tạo sức ép lên tỷ giá, lạm phát và an toàn hệ thống là rất lớn.

TS. Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính (NHNN) cho rằng, áp lực lạm phát đang gia tăng rõ nét trong năm 2026, đặc biệt tác động của xung đột Trung Đông khiến giá dầu và giá nhiên liệu thế giới tăng mạnh.

Theo ông Lân, lạm phát tháng 4/2026 đã tăng hơn 5% so với cùng kỳ năm trước, trong khi IMF dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 có thể lên tới 4,9%, vượt mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đề ra.

Không chỉ chịu áp lực lạm phát, nền kinh tế còn đứng trước nguy cơ nhập siêu quay trở lại sau nhiều năm duy trì xuất siêu. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, xu hướng nhập siêu đã bắt đầu xuất hiện trở lại, kéo theo áp lực lớn đối với tỷ giá và thị trường ngoại hối.

Theo ông Lân, đây là thách thức rất lớn đối với điều hành chính sách tiền tệ không chỉ trong năm 2026 mà cả giai đoạn 2026-2030.

“Trong bối cảnh hiện nay, vai trò lớn nhất của ngành Ngân hàng là giữ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Nếu không kiểm soát tốt lạm phát thì tăng trưởng dù cao cũng khó tạo ra giá trị gia tăng thực chất”, ông Lân nhấn mạnh.

Tăng trưởng tín dụng không đồng nghĩa với tăng trưởng chất lượng

Dù tín dụng toàn nền kinh tế đến ngày 28/4/2026 đã đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước, nhiều ý kiến tại tọa đàm cho rằng vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở quy mô tín dụng mà là chất lượng phân bổ dòng vốn.

Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN đang tiếp tục định hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Trong đó, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 4,3 triệu tỷ đồng; tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt gần 3,8 triệu tỷ đồng. Tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng khá mạnh trong quý I/2026.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, tăng trưởng tín dụng cao không đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế bền vững nếu dòng vốn không được phân bổ hiệu quả.

PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc phụ trách Học viện Ngân hàng cho rằng, trong một nền kinh tế phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng như Việt Nam, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một cơ chế cộng sinh thay vì đơn thuần là quan hệ “cấp vốn - nhận vốn”.

Theo bà Hoàng Anh, điều quan trọng không chỉ là mở rộng tín dụng mà là dòng vốn phải hướng tới các lĩnh vực tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng thực chất.

“Dòng vốn ngân hàng cần tập trung vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao, có tính lan tỏa lớn và thúc đẩy tăng trưởng dài hạn thay vì chảy vào các khu vực tiềm ẩn rủi ro”, bà nói.

Một điểm được nhiều chuyên gia nhấn mạnh là để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, nền kinh tế không thể tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.

Theo ông Nguyễn Xuân Hải, Quyền TBT Thời báo Ngân hàng, việc giảm lãi suất hay mở rộng tín dụng sẽ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa.

“Một bàn tay vỗ không thành tiếng”, ông Hải dẫn lại ý kiến của các chuyên gia tại tọa đàm để nhấn mạnh rằng nỗ lực của riêng ngành Ngân hàng là chưa đủ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Chung quan điểm, TS. Nguyễn Phi Lân cho rằng trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ không còn nhiều, vai trò của chính sách tài khóa cần được phát huy mạnh hơn, đặc biệt thông qua đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cũng cho rằng cần tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp, phát triển thị trường vốn và cải thiện môi trường kinh doanh nhằm nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Trong dài hạn, động lực tăng trưởng cần dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động thay vì phụ thuộc quá lớn vào mở rộng tín dụng.

Bởi trong bối cảnh hiện nay, ổn định kinh tế vĩ mô vẫn là điều kiện tiên quyết để duy trì niềm tin thị trường và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

ĐÌNH VŨ