Kinh tế số - mở nhiều cơ hội phát triển đất nước
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 16:45, 30/04/2026
GS. TS. TÔ TRUNG THÀNH, Đại học Kinh tế Quốc dân: Kinh tế số sẽtạo ra thay đổi về chất cho nền kinh tế

Năm 2025, nền kinh tế đạt được kết quả ấn tượng, song cấu trúc động lực tăng trưởng vẫn chưa có nhiều thay đổi mang tính nền tảng. Tăng trưởng tiếp tục phụ thuộc lớn vào việc mở rộng quy mô vốn, thể hiện qua mức tăng trưởng tín dụng vượt 19%, cao nhất trong một thập kỷ. Đầu tư từ khu vực Nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối khi chiếm gần 30% tổng đầu tư toàn xã hội và tăng gần 20%. Trong khi đó, khu vực tư nhân trong nước, vốn được xem là động lực then chốt cho tăng trưởng dài hạn, lại có xu hướng suy giảm tỷ trọng.
Một điểm đáng chú ý là đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đã chuyển sang mức âm. Điều này phản ánh những hạn chế ngày càng rõ nét trong hiệu quả quản trị, trình độ công nghệ cũng như cách thức phân bổ nguồn lực. Khi tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn và lao động, dư địa phát triển sẽ dần thu hẹp và làm gia tăng rủi ro vĩ mô.
Bước sang năm 2026, mục tiêu tăng trưởng 10% rất thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định. Theo đó, động lực tăng trưởng vẫn tập trung vào công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là đạt được tốc độ tăng trưởng bao nhiêu, mà là tăng trưởng theo mô hình nào.
Trong bối cảnh đó, kinh tế số được xác định là trụ cột trung tâm có khả năng tạo ra thay đổi về chất cho nền kinh tế. Hiện nay, quy mô kinh tế số của Việt Nam ước đạt khoảng 14,02% GDP với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 10% mỗi năm. Dù đã đạt được những kết quả tích cực ban đầu, lĩnh vực này vẫn còn nhiều dư địa phát triển và chưa khai thác hết tiềm năng.
Hiệu quả của kinh tế số phụ thuộc rất lớn vào năng lực hấp thụ của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp lớn hoặc có vốn đầu tư nước ngoài thường có lợi thế rõ rệt nhờ khả năng đầu tư công nghệ và quản trị hiện đại, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều hạn chế về nguồn lực. Do đó, vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ cho doanh nghiệp trở nên đặc biệt quan trọng.
Điểm mấu chốt hiện nay là phải chuyển từ tư duy “số hóa” đơn thuần sang tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế, dựa trên ba trụ cột gồm kinh tế số lõi, kinh tế số ngành và quản trị số, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Ông NGUYỄN ĐỨC HIỂN, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương:Thúc đẩy số hóa các ngành truyền thống

Trong bối cảnh quốc tế biến động khó lường, quốc gia nào tận dụng tốt kinh tế số sẽ có khả năng mở rộng không gian phát triển và giảm thiểu tác động từ các yếu tố địa kinh tế, địa chính trị.
Kinh tế số của Việt Nam hiện đạt quy mô khoảng 72,1 tỷ USD, tương đương hơn 14% GDP nhưng mức độ lan tỏa vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Do đó, mục tiêu đưa kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030 là thách thức rất lớn, đặc biệt khi cấu trúc đầu tư hiện nay chưa thực sự hỗ trợ cho mục tiêu này.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở quá trình số hóa các ngành sản xuất, đặc biệt là lĩnh vực chế biến, chế tạo - khu vực có vai trò then chốt trong việc đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Để tháo gỡ những hạn chế này, cần tập trung vào các yếu tố nền tảng như hoàn thiện thể chế dữ liệu, phát triển nguồn nhân lực số, tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, đồng thời thúc đẩy số hóa các ngành truyền thống.
Một điểm quan trọng là cần thay đổi tư duy chính sách theo hướng linh hoạt và thực tiễn hơn. Một trong những giải pháp đáng chú ý là áp dụng cơ chế Sandbox khung quản lý thử nghiệm cho các lĩnh vực mới như Fintech hay Mobile Money. Bên cạnh đó, việc phát triển hạ tầng số và quản trị số cần được đẩy mạnh, đặc biệt là huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân vào các dự án hạ tầng công cộng.
Trong giai đoạn tới, Việt Nam cũng cần tập trung vào các lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu và kinh tế không gian. Theo dự báo, riêng AI có thể đóng góp tới hơn 2% GDP vào năm 2030, trở thành động lực tăng trưởng quan trọng sau chuyển đổi số.
Ngoài ra, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần được thiết kế lại theo hướng thực chất hơn. Thay vì phụ thuộc vào cơ quan quản lý nhà nước, cần tăng vai trò của thị trường, hiệp hội ngành nghề và các cơ sở đào tạo trong việc dẫn dắt quá trình chuyển đổi số.
GS. TS. NGUYỄN THÀNH HIẾU, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân:Chuyển đổi số - bắt đầu từ thay đổi tư duy đầu tư

Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức mà ở hành động. Nhiều doanh nghiệp đã hiểu rõ cơ hội mà kinh tế số mang lại, nhưng lại chưa biết bắt đầu từ đâu để triển khai một cách hiệu quả. Điều này dẫn đến tình trạng chuyển đổi số diễn ra chậm và thiếu chiều sâu.
Kinh tế số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, mà là quá trình xây dựng một mô hình kinh tế mới dựa trên dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Trong mô hình này, dữ liệu đóng vai trò là tài sản cốt lõi, nhưng việc chuyển hóa dữ liệu thành giá trị gia tăng thực tế tại nhiều doanh nghiệp vẫn còn rất hạn chế.
Để khắc phục tình trạng này, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy đầu tư, không coi chuyển đổi số là một khoản chi phí công nghệ mà phải xem đó là một chiến lược phát triển dài hạn. Trọng tâm đầu tư cần chuyển sang con người, hệ thống dữ liệu, năng lực quản trị và khả năng liên kết trong hệ sinh thái. Chỉ khi có sự kết nối chặt chẽ giữa các chủ thể trong nền kinh tế, từ doanh nghiệp, cơ sở đào tạo đến cơ quan quản lý, quá trình chuyển đổi số mới có thể diễn ra hiệu quả và bền vững.
Bên cạnh đó, phải kể đến tầm quan trọng và vai trò của thể chế trong việc tạo lập môi trường thuận lợi cho chuyển đổi số. Việc hoàn thiện khung pháp lý cần đi đôi với xây dựng cơ chế điều phối chính sách đồng bộ, tránh tình trạng phân tán và chồng chéo, qua đó giúp các nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn.