Tái định vị kinh tế số trong chiến lược tăng trưởng của Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 16:38, 30/04/2026

Kinh tế số Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng, trở thành một trong những điểm sáng của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, kinh tế số không chỉ cần mở rộng quy mô mà còn đòi hỏi sự chuyển dịch về cấu trúc, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hấp thụ của toàn bộ nền kinh tế.

Động lực tăng trưởng mới trong bối cảnh nhiều rủi ro

Những năm gần đây, kinh tế số Việt Nam đã đạt được những bước tiến mạnh mẽ, quan trọng. Theo số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%, tương đương 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Ở góc độ thị trường, báo cáo thường niên kinh tế số khu vực Đông Nam Á (e-Conomy SEA 2025) lần thứ mười do Google, Temasek, Bain & Company công bố, kinh tế số Việt Nam ước đạt 39 tỷ USD tổng giá trị hàng hóa vào cuối năm 2025. Với mức tăng trưởng 17% so với cùng kỳ năm trước, Việt Nam trở thành nền kinh tế số với tốc độ phát triển nhanh thứ hai trong khu vực Đông Nam Á.

Không chỉ tăng về quy mô, nhiều lĩnh vực trong kinh tế số cũng ghi nhận tốc độ phát triển ấn tượng. Các ngành như thương mại điện tử, du lịch trực tuyến, vận tải số duy trì mức tăng trưởng từ 16–20%. Quy mô thị trường thương mại điện tử ước đạt gần 430 nghìn tỷ đồng, trong khi giá trị sản xuất sản phẩm công nghệ số đạt khoảng 172 tỷ USD, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực công nghệ trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào cấu trúc tăng trưởng, có thể thấy nền kinh tế vẫn chưa có nhiều thay đổi về chất. Theo GS. Tô Trung Thành, Đại học Kinh tế Quốc dân, đằng sau tăng trưởng tích cực này, nền kinh tế vẫn đang dựa nhiều vào các động lực truyền thống như mở rộng đầu tư và gia tăng quy mô tín dụng. Mô hình này có thể tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn, nhưng tiềm ẩn rủi ro cho trung và dài hạn, đặc biệt là về ổn định vĩ mô.

Chính từ thực tế này, yêu cầu tìm kiếm một động lực tăng trưởng mới trở nên rõ nét hơn. Trong bối cảnh kinh tế thế giới đối mặt với nhiều bất ổn từ địa chính trị, thương mại đến năng lượng, việc tận dụng cơ hội từ kinh tế số được xem là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian tăng trưởng và giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Từ “khu vực riêng biệt” đến hạ tầng của tăng trưởng

Nếu trước đây kinh tế số thường được nhìn nhận như một khu vực kinh tế riêng biệt, thì cách tiếp cận này đang dần bộc lộ những hạn chế. GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, không nên coi kinh tế số như một khu vực kinh tế độc lập, dù hiện nay vẫn đo lường bằng tỷ trọng trong GDP.

Thực tế cho thấy, cấu trúc kinh tế số của Việt Nam vẫn còn thiên về “phần lõi”. Hiện nay, kinh tế số lõi bao gồm sản xuất và dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) chiếm khoảng 60% tổng giá trị kinh tế số. Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế số của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng các ngành trực tiếp tạo ra sản phẩm và dịch vụ công nghệ, trong khi quá trình số hóa các ngành truyền thống còn chậm và chưa đồng đều.

Theo phân tích của GS.TS Trần Thọ Đạt, cấu trúc này cần được đảo chiều theo hướng kinh tế số lan tỏa chiếm 60% và kinh tế số lõi còn 40%. Đây mới là cấu trúc phản ánh đúng vai trò của kinh tế số như một động lực tăng trưởng, thông qua khả năng thẩm thấu vào các ngành sản xuất, dịch vụ và chuỗi giá trị. Tuy nhiên, việc chuyển dịch cấu trúc này không thể diễn ra trong ngắn hạn, mà đồi hỏi sự đầu tư đồng bộ cho cả hai cấu phần.

Trong đó, đối với kinh tế số lõi, việc phát triển các lĩnh vực như công nghệ thông tin, bán dẫn, hạ tầng số vẫn là điều kiện tiên quyết để tạo nền tảng cho toàn bộ hệ sinh thái số. Trong khi đó, quá trình lan tỏa của kinh tế số sang các ngành khác sẽ phụ thuộc vào năng lực hấp thụ của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị, mà còn phản ánh kỳ vọng về một động lực tăng trưởng mới thay thế dần các yếu tố truyền thống. Định hướng này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XIV của Đảng, với yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với mục tiêu đã đề ra, những kết quả này vẫn chưa đạt kỳ vọng. Tỷ trọng 14 - 14,2% GDP còn cách khá xa mốc 20% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030. Điều này cho thấy, kinh tế số dù tăng trưởng nhanh nhưng vẫn chưa phát huy hết tiềm năng và dư địa phát triển vẫn còn rất lớn.

Bên cạnh đó, nếu chỉ nhìn kinh tế số như một “phần” trong GDP, sẽ khó phản ánh đầy đủ vai trò của nó. GS.TS Trần Thọ Đạt nhận định, kinh tế số cần được hiểu như một hạ tầng của tăng trưởng, nơi công nghệ và dữ liệu trở thành nền tảng để các ngành kinh tế khác vận hành hiệu quả hơn.

Ở góc độ khác, GS.TS Tô Trung Thành cho rằng, không phải “càng số càng tốt”, bởi kinh tế số chỉ phát huy khi có năng lực hấp thụ tốt. Thực tế cho thấy doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI hiệu quả khá rõ trong khi doanh nghiệp nhỏ khó hấp thu công nghệ. Điều này đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh chính sách theo hướng không chỉ thúc đẩy số hóa, mà phải hỗ trợ tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. “Việc xác lập vị thế của kinh tế số trong tổng thể nền kinh tế vẫn là một bài toán cần tiếp tục hoàn thiện” GS.TS Tô Trung Thành nhấn mạnh.

Chính vì vậy, kinh tế số đang đứng trước một bước chuyển quan trọng: từ một khu vực tăng trưởng nhanh trở thành nền tảng của toàn bộ nền kinh tế. GS.TS Nguyễn Thành Hiếu, Phó Giám đốc NEU cho rằng, để kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng, chúng ta còn nhiều việc phải làm. Đó là hoàn thiện thể chế cho kinh tế số; xây dựng cơ chế điều phối chính sách đồng bộ, tránh phân tán; phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và các chuẩn kết nối; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; mở rộng năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; đồng thời tạo dựng một môi trường thử nghiệm, đổi mới và ứng dụng công nghệ an toàn, hiệu quả hơn. Nói cách khác, chuyển đổi số muốn đi vào chiều sâu thì phải được đặt trong một hệ sinh thái phát triển đồng bộ, từ chính sách đến thực thi, từ khu vực công đến khu vực tư, từ nhận thức đến năng lực hành động.

Trà Giang