Đầu tư công trung hạn 2026-2030 tập trung cho các dự án ‘xoay chuyển tình thế’

Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 10:48, 14/04/2026

Trong báo cáo gửi kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI, Chính phủ cho biết, tổng vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 là 8,22 triệu tỉ đồng. Nguồn lực này được tập trung tối đa để triển khai Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đầu tư vào các nhiệm vụ, dự án có tính đột phá, chuyển đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế.
8,22 triệu tỉ đồng đầu tư công sẽ là nguồn lực khổng lồ và là bản lề cho mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030. Ảnh: N.K

Đầu tuần này (6-4-2026), Quốc hội khóa XVI khai mạc kỳ họp thứ nhất, hoàn tất việc bầu và phê chuẩn 39 chức danh lãnh đạo cấp cao, qua đó định hình bộ máy và cách thức vận hành cho cả nhiệm kỳ. Ngay sau đó, ngày 9-4, Chính phủ nhiệm kỳ mới sẽ trình Quốc hội các báo cáo kinh tế - xã hội, trong đó có Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 .

Trong báo cáo gửi Quốc hội, Chính phủ cho biết, giai đoạn 2021-2025, tổng vốn đầu tư công đã bố trí và giải ngân vượt 3 triệu tỉ đồng, tập trung vào các dự án cấp bách, hạ tầng thiết yếu và các công trình có khả năng tạo lực kéo tăng trưởng.

Đáng chú ý, kế hoạch đầu tư công trung hạn từ nguồn ngân sách trung ương giai đoạn này gồm khoảng 4.652 dự án (không gồm các dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án bố trí để thu hồi vốn ngân sách trung ương ứng trước), trong đó có 2.340 dự án khởi công mới.

Bình quân, mỗi dự án được bố trí khoảng 300 tỉ đồng. So với trước đây, khi số dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương lên tới khoảng 19.000 dự án giai đoạn 2011-2015 và khoảng 11.000 dự án giai đoạn 2016-2020, số lượng dự án hiện nay đã giảm mạnh, cho thấy ngân sách trung ương đã cải cách mạnh mẽ danh mục dự án, khắc phục tình trạng dàn trải, phân tán.

Cùng với đó, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng đã có cải thiện nhất định. Hệ số ICOR ở mức 6,4, thấp hơn so với mức 6,77 của giai đoạn 2016-2020. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 ước đạt gần 17,2 triệu tỉ đồng, tương đương 32,8% GDP, đạt mục tiêu bình quân năm năm (32-34% GDP). Trong cơ cấu đó, vốn đầu tư công chiếm khoảng 18,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, vượt mục tiêu đề ra (khoảng 16-17%), tiếp tục giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế.

Tuy vậy, những cải thiện này vẫn chưa đủ để tạo ra một bước chuyển căn bản. Hệ số ICOR dù giảm nhưng vẫn ở mức cao (6,4), trong khi các nền kinh tế công nghiệp hóa thành công thường chỉ quanh mức 4. Bên cạnh đó, công tác khảo sát, thiết kế chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn; các vướng mắc về quy hoạch, địa điểm, thủ tục đất đai và giải phóng mặt bằng vẫn kéo dài.

Không ít dự án dù đã được phê duyệt chủ trương đầu tư, thậm chí đã có quyết định đầu tư, nhưng vẫn chưa đủ điều kiện để giải ngân. Chất lượng chuẩn bị dự án, theo đánh giá của Chính phủ, vẫn là “khâu yếu”, làm giảm tính sẵn sàng và kéo lùi hiệu quả chung của đầu tư công.

Trong bối cảnh đó, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 được xây dựng với tổng nguồn lực khoảng 8,22 triệu tỉ đồng, trong đó ngân sách trung ương chiếm 3,8 triệu tỉ đồng và ngân sách địa phương khoảng 4,42 triệu tỉ đồng. “So với giai đoạn 2021-2025, một trong những điểm nổi bật trong định hướng, phân bổ vốn đầu tư công là tập trung tối đa nguồn lực để triển khai Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng XIV, đầu tư cho các nhiệm vụ, dự án mang tính đột phá, chuyển đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế”, Chính phủ nhấn mạnh.

Theo đó, vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước tiếp tục được bố trí theo hướng tập trung, trọng điểm, với mục tiêu giảm khoảng 30% số lượng dự án so với giai đoạn trước để tăng quy mô và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Cụ thể, khoảng 10% nguồn vốn ngân sách trung ương, tương đương 366.000 tỉ đồng, được dành để hoàn thành các dự án cấp bách, dự án chuyển tiếp, thu hồi vốn ứng trước và xử lý các nghĩa vụ nợ.

Khoảng 75% nguồn lực, tương đương 2,6 triệu tỉ đồng, sẽ được ưu tiên cho các dự án trọng điểm, chiến lược quốc gia, gồm: các chương trình mục tiêu quốc gia; dự án quan trọng quốc gia đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng XIV; các dự án liên vùng của các địa phương. Phần vốn còn lại, khoảng 15%, được phân bổ cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai các nhiệm vụ phát triển theo quy hoạch và các dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức.

Trong phương án phân bổ cụ thể, ngân sách trung ương dành khoảng 10% làm dự phòng chung; khoảng 349.000 tỉ đồng cho các dự án cấp bách, chuyển tiếp và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản; hơn 254.000 tỉ đồng cho năm chương trình mục tiêu quốc gia; và gần 30.000 tỉ đồng cho một dự án quan trọng quốc gia khởi công mới trong giai đoạn này. Phần lớn nguồn lực còn lại, khoảng 2,79 triệu tỉ đồng, sẽ tiếp tục được rà soát, hoàn thiện thủ tục và phân bổ chi tiết trên cơ sở đánh giá hiệu quả đầu tư và yêu cầu phát triển.

Đối với nguồn vốn ngân sách địa phương, tổng mức dự kiến đạt khoảng 4,42 triệu tỉ đồng. Việc phân bổ cụ thể sẽ do từng địa phương xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí và định mức đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm phù hợp với quy hoạch và yêu cầu phát triển từng vùng, từng lĩnh vực.

Tổng nhu cầu đầu tư giai đoạn 2026-2030 của các bộ, ngành, địa phương lên tới hơn 10 triệu tỉ đồng. Dù vẫn thấp hơn nhu cầu thực tế, quy mô vốn đầu tư công dự kiến cho năm năm tới vẫn lớn gấp gần ba lần giai đoạn 2021-2025. Đây là “cửa sổ cơ hội” đủ lớn để tạo bứt phá về hạ tầng, logistics, chuyển đổi năng lượng và các cực tăng trưởng vùng. Nhưng quy mô vốn càng lớn, yêu cầu về hiệu quả và kỷ luật đầu tư càng phải chặt chẽ hơn.

Trong bối cảnh đó, cần nhấn mạnh sự chuyển dịch trong tư duy: từ “quản lý chi tiêu” sang “quản trị kết quả”. Mỗi dự án đầu tư công không chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân, mà phải được đo lường bằng các chỉ số đầu ra cụ thể như năng suất lao động, chi phí logistics, năng lực cạnh tranh hay mức độ lan tỏa đối với khu vực tư nhân. Chỉ khi lượng hóa được những giá trị này, hiệu quả thực chất của đồng vốn công mới có thể được xác định rõ ràng.

Cũng bởi quy mô nguồn lực rất lớn, chỉ cần một tỷ lệ nhỏ sử dụng không hiệu quả cũng tương đương với hàng chục ngàn tỉ đồng thất thoát. Vì vậy, việc nâng cao năng lực quản trị dự án, tính chuyên nghiệp của chủ đầu tư và trách nhiệm giải trình của các cấp điều hành là yêu cầu không thể trì hoãn. Minh bạch thông tin và giám sát xã hội cần được coi là tuyến phòng thủ quan trọng, giúp bảo đảm đồng vốn công được sử dụng đúng mục tiêu và mang lại giá trị thực.

Giai đoạn 2026-2030 là bản lề cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, hướng tới nền kinh tế có thu nhập cao. Nếu được Quốc hội thông qua, 8,22 triệu tỉ đồng đầu tư công sẽ là nguồn lực khổng lồ, và khi được sử dụng khôn ngoan, đồng vốn ấy có thể trở thành đòn bẩy cho hạ tầng hiện đại, năng lượng sạch, đô thị thông minh và năng suất lao động cao hơn... Đó cũng chính là hiệu quả thật sự của đầu tư công mà Quốc hội, Chính phủ và toàn xã hội đang kỳ vọng trong giai đoạn phát triển mới.

An Nhiên