Mục tiêu tăng trưởng hai con số: Thước đo của đầu tư công và kỷ luật thực thi
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 10:31, 02/03/2026
Khi dư địa của chính sách tiền tệ không còn dồi dào như trước, chính sách tài khóa, đặc biệt là đầu tư công, phải đảm đương được nhiệm vụ kép - thúc đẩy tăng trưởng và giữ ổn định vĩ mô. Yêu cầu này diễn ra trong bối cảnh không gian tài khóa tốt hơn và hệ thống quản trị đang đứng trước cuộc sát hạch về năng lực truyền tải vốn sao cho hiệu quả.
Khi tài khóa dồi dào hơn
Trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam dựa đáng kể vào mở rộng tín dụng qua kênh ngân hàng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức rất cao so với khu vực (137%), việc tiếp tục bơm tín dụng để kích thích tăng trưởng không còn là lựa chọn an toàn do tồn tại rủi ro ở cả kênh dẫn vốn và cấu trúc phân bổ.

Trái lại, những năm gần đây chứng kiến nguồn lực về tài khóa dồi dào hơn nhưng lại chưa được khai thác đúng tầm. Từ cuối năm 2024, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đã giảm xuống 34%, mức này đang cách rất xa trần nợ là 60%. Điều đó có nghĩa trong nhiệm kỳ tới, Chính phủ có thể đẩy mạnh sử dụng các công cụ vốn nhà nước để đầu tư mà thậm chí không phải lệ thuộc vào các nguồn viện trợ bên ngoài.
Để đạt tăng trưởng hai con số, về quy mô, kế hoạch đầu tư công năm 2026 là gần một triệu tỉ đồng tương đương khoảng 8% GDP, tăng 10% so với năm ngoái, và đến năm 2030 dự kiến lên tới khoảng 8,5 triệu tỉ đồng. Đây là con số kỷ lục, tăng hơn 180% so với kế hoạch năm năm trước.
Tuy nhiên, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng của đầu tư công khả năng cao cũng chỉ ở mức rất khiêm tốn. Tham khảo giai đoạn 2021 - 2025, khi đầu tư công tăng thêm 10% sẽ góp phần trăng trưởng GDP khoảng 0,6%, tức là chỉ tính trong năm 2026 nếu giải ngân được toàn bộ số vốn trên thì GDP cũng chỉ tăng thêm 0,6%.
Khoảng cách giữa tham vọng tăng trưởng hai con số và khả năng đóng góp cơ học của đầu tư công cho thấy thực tế tất yếu là quy mô vốn đầu tư không thể là động lực mà Việt Nam có thể dựa vào nhằm kéo cả nền kinh tế đi lên.
Vấn đề nằm ở việc chi tiền
Trong cấu phần đầu tư của GDP, đầu tư công chỉ chiếm một phần, còn lại là đầu tư tư nhân và FDI. Theo nguyên tắc kinh tế, tác dụng lớn nhất của đầu tư công không nằm ở bản thân con số giải ngân mà ở khả năng kích hoạt dòng vốn tư nhân, giảm chi phí sản xuất và mở rộng năng lực cung ứng của nền kinh tế.
Ví dụ, một tuyến cao tốc không chỉ tạo ra giá trị xây lắp mà quan trọng hơn là kết nối khu vực nghèo với khu vực giàu, hạ chi phí logistics và tăng cơ hội tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp và việc làm cho người lao động. Đầu tư công vì thế phải được xem là đường băng cho khu vực tư nhân và FDI cất cánh, chứ không phải là động cơ thay thế.
Nhưng thách thức lớn nhiều năm nay luôn nằm ở khâu thực thi. Theo giới chuyên môn, tiến độ giải ngân không hiệu quả chủ yếu đến từ các nguyên nhân: chậm trễ, ách tắc trong giải phóng mặt bằng; tổ chức đấu thầu không thành công hoặc sai thủ tục; năng lực nhà thầu thực tế chưa đáp ứng được nhu cầu dự án; và triển khai đồng loạt nhiều dự án không cần thiết dẫn đến tiêu tốn nguồn lực đầu tư.
Nhìn rộng hơn, nguyên nhân gốc rễ của các tồn tại trên nằm ở tâm thế bị động chờ đốc thúc của các cơ quan có thẩm quyền, từ đó sinh ra hiện tượng “dự án chờ vốn” vì chưa chuẩn bị các điều kiện giải ngân thay vì “vốn chờ dự án”.
Khi áp lực giải ngân vẫn cao, nếu tư duy chờ đợi vẫn còn tồn tại, nguy cơ dàn trải dự án và hạ thấp tiêu chuẩn lựa chọn sẽ tiếp diễn, dẫn tới đầu tư công lại trở thành gánh nặng nợ công thay vì tạo nền tảng tăng trưởng.
Do vậy, trong nội hàm của việc giải ngân đầu tư công phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn là “giải ngân” được năng lực điều hành của bộ máy quản trị để mỗi đồng ngân sách chi ra có tác dụng lan tỏa lớn hơn cho nền kinh tế.

Các ưu tiên chiến lược
Đầu tư công trước hết cần tập trung vào cơ sở hạ tầng. Theo quan sát của giới chuyên môn, có ba loại hạ tầng cần tập trung trong giai đoạn tới là hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng và hạ tầng số.
Loại hình hạ tầng nào cũng quan trọng, nhưng phải phân đoạn đầu tư để ưu tiên đầu tư vào mỗi loại hạ tầng một cách phù hợp, thay vì cứ hoạch định theo logic quen thuộc là “đồng khởi” ngay từ đầu nhiệm kỳ với hy vọng việc đầu tư cùng lúc sẽ tạo ra hiệu quả tương hỗ. Trái lại, thực tế đã cho thấy điều này chỉ khiến nguồn lực manh mún hơn và cuối cùng là không dự án nào đến đích.
Giải pháp cho việc này là cần chuyển dịch từ tư duy “đồng khởi” sang tư duy “dứt điểm”. Tức là khi đã hoạch định đầu tư thì phải giao deadline cho nhà thầu/chủ đầu tư, và đã thi công thì phải hoàn thành rồi mới chuyển sang dự án/hạng mục khác. Nói theo cách dân dã hơn là hoàn thiện đến đâu nghiệm thu đến đó và nhất quyết là phải nghiệm thu đủ khi kết thúc phân đoạn đầu tư.
Ngoài ra, Chính phủ còn có thể dựa vào nguồn tài khóa dồi dào để chuyển đổi nhiều dự án ban đầu được thiết kế theo hình thức đối tác công tư sang đầu tư công toàn phần. Khi nhà nước đứng ra đầu tư trực tiếp bằng ngân sách, các dự án có thể được triển khai nhanh hơn, ít rủi ro hơn về mặt pháp lý hay thể chế như mô hình BOT và BT thường gặp phải.
Bên cạnh đó, chất lượng quản trị của chính quyền địa phương vẫn là một điểm yếu cố hữu. Năm qua ghi nhận nhiều nỗ lực đốc thúc từ Trung ương, nhưng đây không thể là giải pháp dài hạn vì tâm thế bị động của địa phương chưa được thay đổi.
Chính phủ cần thẳng thắn nhìn nhận thực trạng này và từng bước hình thành một áp lực thúc ép các cấp chấp hành nguyên tắc “phân vai - rõ việc”. Chính quyền địa phương phải chủ động xác lập địa thế mới, tính toán kế hoạch hành động rõ ràng dựa trên quy hoạch tổng thể quốc gia: làm gì, làm thế nào với nguồn lực sẵn có, trên cơ sở nhận thức rằng vận mệnh chính trị của mình gắn chặt với vận mệnh phát triển của địa phương, thay vì chờ đợi Trung ương giao việc và rót ngân sách.
Tiếp đó mới đến vai trò của Trung ương là phê duyệt các chương trình nghị sự từ địa phương và hướng dẫn phối kết hợp để bổ khuyết cho nỗ lực chung. Đồng thời, thiết kế cơ chế khuyến khích có thưởng, có phạt rõ ràng, gắn với KPI vừa định tính vừa định lượng để thử thách và trui rèn cán bộ dựa trên thành tích của việc sáng tạo, chủ động, biết làm.
Sau cùng, kỷ luật thực thi và cải cách thể chế giữ vai trò then chốt. Qua nhiều phản ánh của giới chuyên môn, việc áp dụng các thông lệ quốc tế trong hoạch định và triển khai dự án, như đấu thầu cạnh tranh, là rất cần thiết. Nếu vì những lý do như thiếu thời gian, thông lệ quốc tế quá phức tạp để áp dụng tại Việt Nam mà bỏ qua kỷ luật của thị trường, cùng lúc thực hiện nhiều dự án trong thời gian ngắn sẽ gây ra hệ lụy về giám sát và quản lý, dẫn đến chậm tiến độ, chất lượng không đảm bảo, thậm chí là rủi ro cho người thực thi.
Cùng với đó là cơ chế bảo vệ cho tinh thần đổi mới sáng tạo của cán bộ các cấp. Thiển nghĩ, cải cách thể chế thực tế nhất trước hết phải bắt đầu từ việc phát huy “đúng” và “đủ” vai trò của hệ thống tư pháp, tôn trọng chức năng hiến định của nhánh tư pháp trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo sự công minh của pháp luật. Khi đó các điều kiện bước đầu để bảo vệ cán bộ “dám nghĩ”, “dám làm” mới cơ bản được hình thành.
Tóm lại, hiệu quả của đầu tư công không chỉ được quyết định bởi mức độ giải ngân nhanh hay chậm, mà còn ở việc chấp hành đúng. Các dự án đầu tư nếu được lựa chọn kỹ lưỡng, triển khai có kỷ luật và gắn với cơ chế kỹ trị, có thể trở thành bệ đỡ cho một quỹ đạo tăng trưởng bền vững. Ngược lại, nếu thiếu các yếu tố trên, đầu tư công có thể nhanh chóng trở thành gánh nặng dài hạn.
Tăng trưởng hai con số với sự dẫn dắt của đầu tư công suy cho cùng chính là phép thử cho năng lực trưởng thành của hệ thống và thể chế.
(*) Bộ phận Truyền thông và Đối ngoại, Dentsu Vietnam