Kinh tế số thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 10:37, 28/01/2026
Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc chiến lược để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong hành trình đó, kinh tế số được xác định là một trong những trụ cột tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao.
Tại Việt Nam, trong giai đoạn 2021-2025, kinh tế số nổi lên như một trụ cột quan trọng trong Chiến lược chuyển đổi số quốc gia với tốc độ phát triển nhanh trên nhiều lĩnh vực, nhất là sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Vai trò động lực tăng trưởng
Năm 2025, kinh tế số tiếp tục đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam với tỷ trọng giá trị tăng thêm ước đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, gấp 1,64 lần so năm 2020 (43,8 tỷ USD). Cả nước hiện có khoảng 80 nghìn doanh nghiệp công nghệ số, tăng mạnh so với 58 nghìn doanh nghiệp vào năm 2020. Đặc biệt, tỷ trọng đóng góp của kinh tế số khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 6,5% năm 2020 lên 7,2% năm 2025, khẳng định kết quả bước đầu trong nỗ lực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, số hóa các ngành kinh tế.
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) đánh giá: Kinh tế số đang phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu; mức độ số hóa trong các ngành, lĩnh vực ngày càng được mở rộng, nhất là trong thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng. Kinh tế số cũng trở thành nhân tố tạo khác biệt về tăng trưởng của nhiều địa phương với tỷ trọng đóng góp trong GRDP (Tổng sản phẩm trên địa bàn) vượt 20%, thí dụ của Bắc Ninh đạt 46,3%; Thái Nguyên 29,53%; Hải Phòng 22,28% hay Phú Thọ 22,71%.
Có thể thấy, kinh tế số đóng vai trò then chốt trong việc định hình lực lượng sản xuất hiện đại, là nền tảng để Việt Nam ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên số.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đã khẳng định: Phát triển kinh tế số để đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, kinh tế số Việt Nam hiện chủ yếu vẫn là số hóa các ngành, lĩnh vực cũ, chưa chuyển mạnh sang tạo mô hình tăng trưởng mới. Mặt khác, tỷ trọng kinh tế số trong GDP dù tăng nhanh, nhưng giá trị gia tăng nội địa còn thấp, phụ thuộc nhiều các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các nền tảng xuyên biên giới.
Để đạt mục tiêu đề ra trong Nghị quyết 57-NQ/TW là quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP năm 2030 và tối thiểu 50% GDP năm 2045, phát triển kinh tế số thời gian tới sẽ phải thực chất hơn, “sâu” hơn, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn từ những đổi mới mang tính đột phá.
Doanh nghiệp số là lực lượng nòng cốt
Dựa trên tư liệu sản xuất mới là dữ liệu, phương tiện máy móc sản xuất mới là hạ tầng số và các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây (Cloud), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng số… kinh tế số là động lực mang tính quyết định cho tăng trưởng hai con số của Việt Nam, thông qua việc thúc đẩy tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế từ sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tổ chức thị trường và quản trị doanh nghiệp.
Theo Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, thời gian tới, thay vì số hóa rời rạc từng lĩnh vực, Nhà nước cần đóng vai “kiến trúc sư trưởng” xây dựng một cấu trúc tổng thể cho nền kinh tế số quốc gia. Trong đó, các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ số sẽ là lực lượng sản xuất chiến lược, thực hiện nhiệm vụ phát triển “xương sống” của không gian số quốc gia, bao gồm hạ tầng viễn thông, các trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây đến các nền tảng số và giải pháp an toàn, an ninh mạng…
Doanh nghiệp công nghệ phải nắm vai trò dẫn dắt, làm chủ công nghệ lõi từ thiết kế, kiến trúc, thuật toán, dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ và năng lực triển khai ở quy mô lớn. Từ đó, không chỉ cung cấp giải pháp cho thị trường trong nước, mà còn tạo ra các sản phẩm giữ vị trí quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đó, Nhà nước cần kiến tạo, mở đường bằng thể chế, tiêu chuẩn và cơ chế đặt hàng; phát triển thị trường số để tạo cầu cho doanh nghiệp Việt, giúp họ dần lớn lên trong thị trường nội địa, rồi dần vươn ra thế giới, trở thành các tập đoàn công nghệ lớn đủ sức cạnh tranh toàn cầu.
Được ví như “đòn bẩy” cho kinh tế số, hiện nền kinh tế tầm thấp cũng đang nổi lên như một hướng phát triển mới giàu tiềm năng. Đây là hệ sinh thái tích hợp cả kinh tế xanh và kinh tế số, bao gồm các loại máy bay không người lái hoặc máy bay điện có khả năng chở người hoặc vận chuyển hàng hóa… từ đó hình thành khu vực kinh tế mới trong không gian dưới 1.000m (hoặc đến 5.000m tùy nhu cầu).
Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn CT Group Trần Kim Chung chia sẻ: Kinh tế tầm thấp mang lại nhiều lợi ích chiến lược cho Việt Nam như tạo giá trị gia tăng khổng lồ từ các mô hình kinh doanh mới; cung cấp công cụ giải quyết các thách thức lớn của quốc gia như an ninh lương thực, tắc nghẽn giao thông, ứng phó biến đổi khí hậu và an ninh quốc phòng; đồng thời, giúp nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ.
Theo các chuyên gia, Việt Nam có cơ hội lớn trong phát triển kinh tế không gian tầm thấp, dự báo có thể đạt từ 2 đến 3 tỷ USD vào năm 2030. Để nắm bắt thời cơ, Giám đốc điều hành Boston Consulting Group (BCG) Arnaud Ginolin khuyến nghị, Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tầm thấp quốc gia rõ ràng và thực tế; thúc đẩy làm chủ công nghệ lõi thông qua hợp tác chiến lược; tăng tốc đầu tư hạ tầng hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực robot, AI, hàng không; đồng thời, sớm triển khai các mô hình thí điểm với sự tham gia trực tiếp của các doanh nghiệp trước khi mở rộng ra quy mô toàn quốc.
