Hài hòa ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường: Di sản của Đổi mới và tầm nhìn đến năm 2030

Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 10:13, 20/01/2026

Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng xác định “phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm” thể hiện bước tiến mới trong tư duy phát triển bền vững. Cách tiếp cận này kế thừa có chọn lọc những thành tựu và bài học lớn sau 40 năm Đổi mới, đồng thời khẳng định dứt khoát nguyên tắc: "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng". Hài hòa ba trụ cột này là nền tảng đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Mạch tư duy phát triển bền vững trong 40 năm Đổi mới

Ngay cuối những năm 1980, Đảng ta đã sớm tiếp cận và tiếp thu tư duy về “tam giác” phát triển bền vững. Trong Văn kiện Đại hội VI (1986), Đảng ta đã nhấn mạnh “sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội”. Từ đó, Đảng và Nhà nước ta nhất quán coi phát triển bền vững là định hướng xuyên suốt, gắn chặt với tiến trình Đổi mới và yêu cầu phát triển dài hạn của đất nước.

dang-671e47a5a9f3d.jpg
Đường phố rực rỡ cờ hoa chào mừng Đại hội XIV của Đảng. Nguồn: TL

Qua các kỳ Đại hội tiếp theo, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh tính gắn kết hữu cơ giữa ba trụ cột phát triển bền vững: kinh tế, xã hội, môi trường; đồng thời từng bước cụ thể hóa bằng các chủ trương và chương trình hành động phù hợp với bối cảnh trong nước và xu thế quốc tế. Điều này thể hiện rõ qua việc Việt Nam tham gia Chương trình Nghị sự 21 tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janeiro (1992); ban hành các Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2001 - 2010, 2011 - 2020 và tiếp tục triển khai từ năm 2021 đến nay. Ở tầm cam kết toàn cầu, Việt Nam kiên định thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) đến năm 2030, đồng thời tích hợp cách tiếp cận “tam giác phát triển bền vững” vào các chiến lược trọng điểm như Chiến lược tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng và thích ứng biến đổi khí hậu.

Đáng chú ý, tư duy phát triển bền vững hiện nay không dừng ở việc hài hòa ba trụ cột truyền thống, mà còn mở rộng sang các mô hình liên kết động lực phát triển mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh vai trò của “tam giác” Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh, tăng trưởng dựa trên tri thức và năng suất. Cùng với đó, áp dụng tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội, quản trị) ngày càng trở thành yêu cầu phổ quát đối với doanh nghiệp.

Với quy mô dân số đứng thứ 16 và quy mô nền kinh tế khoảng thứ 32 thế giới (năm 2025), Việt Nam ngày càng có vị thế trên bản đồ toàn cầu. Lựa chọn phát triển bền vững của Việt Nam, do đó, mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi trong nước, đóng góp thực chất vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bao trùm.

Tăng trưởng xanh phải dựa trên năng suất, công nghệ và kinh tế số

Quan điểm chỉ đạo “phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm” trong dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV là bước đột phá về tư duy phát triển của Đảng ta. Cách tiếp cận này khắc phục những giới hạn của giai đoạn “tăng trưởng nóng” trước, khi kinh tế đôi lúc được đặt lên trên các cảnh báo về ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên và hệ lụy bất bình đẳng xã hội.

Theo tinh thần của dự thảo các văn kiện, trên bình diện kinh tế, mô hình phát triển của nước ta được định hướng theo hướng xanh hơn, tuần hoàn hơn, dựa trên khoa học, công nghệ, kinh tế số và năng suất lao động cao hơn. Các mục tiêu như GDP tăng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trên 55%, chỉ số phát triển con người (HDI) khoảng 0,78 và tuổi thọ trung bình đạt 75,5 năm vừa phản ánh khát vọng tăng trưởng nhanh, vừa cho thấy yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển. Qua đó, tạo nền tảng để Việt Nam thực hiện nhất quán các cam kết quốc tế, nhất là Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Cùng với đó là yêu cầu phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương, tạo dư địa chính sách thuận lợi hơn để khu vực doanh nghiệp tư nhân - lực lượng quan trọng nhất của nền kinh tế, tham gia sâu hơn vào công nghệ cao, kinh tế số, hướng tới mục tiêu kinh tế số đóng góp khoảng 30% GDP. Đồng thời, cơ cấu lại thị trường lao động theo hướng hiện đại hơn, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 20%, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ lên 35 - 40%. Đây là điều kiện nền tảng để đạt mục tiêu tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,5%/năm, qua đó bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng vẫn duy trì tiến bộ xã hội, không tạo ra “đánh đổi” giữa hiệu quả kinh tế với công bằng, an sinh và chất lượng cuộc sống của người dân.

Phát triển bao trùm là thước đo của chất lượng tăng trưởng

Trên bình diện xã hội, phúc lợi xã hội, an sinh toàn dân và giảm nghèo đa chiều được xác định là nền tảng, nhằm bảo đảm phát triển bao trùm và củng cố sức mạnh nội sinh. Đây là cách tiếp cận đúng và cần thiết, bởi một mô hình phát triển bền vững không thể chỉ được đánh giá bằng các con số GDP, mà phải được đo bằng mức độ cải thiện chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân.

Hơn nữa, trong bối cảnh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, các nhóm dễ bị tổn thương như lao động phi chính thức, khu vực thu nhập thấp, vùng sâu vùng xa có thể đối mặt rủi ro lớn hơn nếu không có chính sách hỗ trợ phù hợp. Vì vậy, phát triển bao trùm là yêu cầu mang tính hệ thống: xã hội càng bao trùm, nền kinh tế càng có sức chống chịu và càng giảm chi phí xã hội trong dài hạn.

Theo đó, dự thảo Chương trình hành động đề ra nhiều nhiệm vụ cụ thể nhằm mở rộng độ bao phủ an sinh và nâng cao chất lượng phúc lợi xã hội như: đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá rẻ; hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, hướng tới bao phủ toàn bộ lực lượng lao động; hoàn thiện hệ thống trợ giúp xã hội, các chính sách an sinh đối với các đối tượng yếu thế; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xây dựng nông thôn mới; tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, tôn giáo; xây dựng xã hội học tập suốt đời…

Môi trường là “lá phổi xanh” của tăng trưởng

Trên bình diện môi trường, với nhận thức môi trường chính là “lá phổi xanh” của tăng trưởng bền vững, các chỉ tiêu về tỷ lệ che phủ rừng, xử lý nước thải, chất thải... được đặt ra cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước. Các giải pháp chính sách được định hướng theo hướng hiện đại và có tính thị trường cao hơn, nổi bật là cơ chế định giá carbon, tổ chức và vận hành thị trường carbon quốc gia; đổi mới phương thức quản trị môi trường dựa trên giám sát số hóa, tăng cường kết nối dữ liệu giữa Trung ương và địa phương, gắn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu với kết quả thực thi.

Đồng thời, triển khai các chương trình, đề án cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị, cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông và khu vực nông thôn; xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường không khí tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước; xây dựng, hoàn thiện hệ thống bản đồ rủi ro thiên tai, hệ thống cảnh báo sớm thiên tai; phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long; phòng, chống lũ lụt, sạt lở vùng trung du và miền núi…

Các dự thảo văn kiện của Đảng, trong đó có dự thảo Báo cáo chính trị, sẽ được thảo luận và thông qua tại Đại hội XIV, qua đó trở thành “bản đồ chiến lược” và kim chỉ nam hành động cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trong ý nghĩa đó, văn kiện không chỉ thể hiện bản lĩnh lãnh đạo, quyết tâm chính trị và ý chí hành động của Đảng, mà còn có sức khơi dậy mạnh mẽ khát vọng vươn mình của dân tộc. Khi sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy trọn vẹn, gắn với một mô hình phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội, môi trường, mục tiêu xây dựng một Việt Nam hùng cường mới có đủ nền tảng để đi vào hiện thực, vững chắc và bền lâu.

TS. Trần Văn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách Khóa X