Củng cố năng lực nội sinh của nền kinh tế
Nghiên cứu - Trao đổi - Ngày đăng : 08:00, 02/01/2026
Dấu ấn nổi bật của kinh tế Việt Nam trong một giai đoạn đầy biến động vừa qua là nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới, củng cố năng lực nội sinh và khẳng định đủ sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Những kết quả đáng tự hào
Giai đoạn 2021-2025 đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu; riêng các năm 2024-2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu kinh tế-xã hội đề ra. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cả giai đoạn đạt khoảng 6,3%/năm; quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 510 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người tăng từ hơn 3.500 USD/người/năm lên khoảng 5.000 USD/người/năm, vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao. Tổng kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 900 tỷ USD vào năm 2025, đưa quy mô thương mại của Việt Nam vươn lên top 20 thế giới.
Giai đoạn 2021-2025 đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu; riêng các năm 2024-2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu kinh tế-xã hội đề ra. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cả giai đoạn đạt khoảng 6,3%/năm; quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 510 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người tăng từ hơn 3.500 USD/người/năm lên khoảng 5.000 USD/người/năm, vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao. Tổng kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 900 tỷ USD vào năm 2025, đưa quy mô thương mại của Việt Nam vươn lên top 20 thế giới.
Đáng lưu ý, nền kinh tế đang trở lại quỹ đạo tăng trưởng cao nhưng lạm phát liên tục được kiểm soát dưới 4%, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam giảm được nợ công từ mức 44,3% GDP năm 2020 xuống còn 35-36% GDP; giảm bội chi ngân sách trong khi thu ngân sách nhà nước tăng gấp 1,36 lần nhiệm kỳ trước (ước đạt 9,6 triệu tỷ đồng); thị trường ngoại hối tương đối ổn định, mặt bằng lãi suất cho vay giảm, có tác động tích cực đến quá trình phục hồi và phát triển của doanh nghiệp.
Với nhiều kết quả nổi bật trong kinh tế vĩ mô, Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF đánh giá Việt Nam nằm trong top 10 nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới, theo Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới công bố tháng 10/2025.
Những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025 có thể được đúc kết bằng khái niệm “chống chịu” và “bứt phá”, vững vàng. Trong năm đầu nhiệm kỳ, dưới tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 và thương mại toàn cầu suy giảm, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng dương với mức 2,58%, trong bối cảnh nhiều quốc gia rơi vào suy thoái, tăng trưởng âm. Từ năm 2022, Quốc hội, Chính phủ đẩy mạnh các giải pháp cấp bách hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, thúc đẩy quá trình phục hồi kinh tế, tăng trưởng GDP bứt phá lên 8,02%.
Đáng lưu ý, năm 2025, trên cơ sở đánh giá kỹ tình hình thực tiễn và trước yêu cầu phát triển đất nước, Chính phủ đề xuất, trình Trung ương Đảng, Quốc hội ban hành kết luận, Nghị quyết điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GDP đạt từ 8% trở lên thay vì mục tiêu ban đầu là 6,5%. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, cách đặt vấn đề như vậy thể hiện khát vọng, ý chí vượt lên chính mình và quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh, sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thể hiện qua hai khía cạnh quan trọng. Thứ nhất, năng lực nội tại của nền kinh tế được nâng lên qua số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP, sự gia tăng của quy mô GDP và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa; nhiều chỉ số vĩ mô khác đều tích cực. Thứ hai, Việt Nam tiếp tục là điểm đến tin cậy nhà đầu tư nước ngoài khi dòng vốn đầu tư toàn cầu biến động mạnh và cơ cấu lại sau đại dịch Covid-19; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa vẫn thiết lập kỷ lục mới, bất chấp những tác động tiêu cực từ chính sách thuế đối ứng của chính quyền Tổng thống Hoa Kỳ. Trong bối cảnh giai đoạn 2021-2025 có rất nhiều khó khăn, thách thức so với giai đoạn trước, những kết quả này rất đáng trân trọng và tự hào.
Động lực tăng trưởng mới cho giai đoạn 2026-2030
Bên cạnh sự phát huy hiệu quả của các động lực tăng trưởng truyền thống, giai đoạn 2021-2025 cũng đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế dựa trên các mô hình tăng trưởng mới, gồm đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, năng lượng tái tạo, nhất là trong năm cuối của nhiệm kỳ.
Nghị quyết số 57/NQ-TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68/NQ-TW về phát triển kinh tế tư nhân đã thúc đẩy cuộc tái thiết công nghệ, đưa hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển sâu rộng với hơn 4.000 startup, 2 kỳ lân và trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn công nghệ trong khu vực. Cùng với đó là thu hút sự tham gia của hơn 1.000 đối tác vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam với những tập đoàn công nghệ hàng đầu như NVIDIA, Google, Meta, Samsung, Qualcomm… thông qua sự kết nối của Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC).
Khu vực kinh tế tư nhân cũng có một năm bứt phá với hơn 300.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 2025, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế lên hơn 1 triệu doanh nghiệp.
Theo Tiến sĩ Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam, việc triển khai Nghị quyết số 68/NQ-TW đã mở ra các điểm bứt phá trong hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân, đem lại luồng sinh khí mới cho nền kinh tế.
Để có thể tăng trưởng 2 con số liên tục trong nhiều năm, Việt Nam cần tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô như một yếu tố “bất biến”, kiểm soát tốt lạm phát. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, bảo đảm các dòng tiền được kích hoạt và phân bổ hiệu quả nhất, định hướng tín dụng dịch chuyển dần sang các lĩnh vực tạo ra giá trị cho nền kinh tế thực.
Chuyên gia kinh tế Trần Du Lịch
Dưới góc độ người làm công tác thống kê, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Thống kê nhận định, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định, môi trường đầu tư ngày càng thuận lợi và niềm tin thị trường được củng cố trong giai đoạn 2021-2025 đã tạo nền tảng then chốt để Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao trong bối cảnh dịch chuyển mạnh mẽ của chuỗi cung ứng toàn cầu. Những yếu tố này đóng vai trò như điều kiện cần để hình thành các động lực tăng trưởng đột phá từ năm 2026, giúp Việt Nam có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số một cách ổn định và bền vững trong giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, nhất là các dự án hạ tầng trọng điểm và tiến trình cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy trong giai đoạn 2021-2025 đã góp phần khơi thông nguồn lực, giải phóng năng lực sản xuất, mở ra không gian phát triển mới, tạo nền tảng, kỳ vọng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Theo chuyên gia kinh tế Trần Du Lịch, để có thể tăng trưởng 2 con số liên tục trong nhiều năm, Việt Nam cần tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô như một yếu tố “bất biến”, kiểm soát tốt lạm phát. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, bảo đảm các dòng tiền được kích hoạt và phân bổ hiệu quả nhất, định hướng tín dụng dịch chuyển dần sang các lĩnh vực tạo ra giá trị cho nền kinh tế thực. Trong khi các động lực tăng trưởng truyền thống đã tới ngưỡng, cần thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, trên cơ sở ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và cải cách thể chế theo hướng tăng cường cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả.
Những thành tựu lớn của nhiệm kỳ Đại hội XIII tạo nền tảng vững chắc, góp phần đưa đất nước tiến nhanh vào kỷ nguyên mới của dân tộc.
PHƯƠNG ANH
